- Hình 1 ( 1802 ) : VN chưa có tỉnh Điện Biên và 1/2 Lai châu ( số 1 ). Chưa
cắt 1 phần huyện Quản Bạ cho TQ. ( 2 ). Chưa cắt đoạn bờ biển từ Móng cái đến
Phòng Thành ( số 3 ). Vùng Bình Thuận vẫn là vương quốc từ trị Chiêm Thành ( số
4 ). Một số Tieur vương của Lào tự nguyện sáp nhập VN ( số 5 )
- Hình 2 ( 1884 ) : Không còn vương quốc từ trị Chiêm Thành từ 1832( số 4 ). Có một số tiểu vương
của Lào gia nhập VN ( số 5, 6 ). Biên giới phía Bắc không thay đổi.
- Hình 3 ( năm 1887 ) : Cắt đoạn
bờ biển từ Móng
Cái – đến cảng Phòng
Thành dài 60km và một
phần huyện Quản Bạ cho TQ ( hình 2, 3 ).
- Hình 4 ( 1895 ) : Nhà
Thanh trả tỉnh Điện Biên và 1/2 tỉnh Lai châu cho VN ( số 1 )'
- Hình 5 : VN năm 1905. Do thành lập Liên Ban Đông Dương nên Pháp cắt trả Lào
các tiểu vương quốc ( số 5,6 ) và sáp nhập VN một tiểu vương ở Đông Nam Lào (
số 7 ) cho VN
Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2022
BIÊN GIỚI VIỆT NAM THAY ĐỔI RA SAO TỪ 1802 ĐẾN 1905 ( nhất là trước và sau Hòa ước Thiên Tân 1885 ) :
Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2022
Vì sao thời nhà Nguyễn lại có 2 bản đồ Việt nam khác nhau ?
2. Hình 2 là bản đồ VN thời nhà Nguyễn từ 1895 đến 19
SỞ DĨ CÓ SỰ THAY ĐỔI NHƯ VẬY VÌ: CĂN CỨ VÀO HÒA ƯỚC PHÁP - THANH, VN PHẢI NHỪNG CHO NHÀ THANH KHOẢNG ĐẤT TỪ MÓNG CÁI ĐẾN PHÒNG THÀNH ( DÀI 60 KM ), SÂU VÀO ĐẤT LIỀN KHOẢNG 30 KM.
NGƯỢC LẠI : NHA THANH PHẢI CẮT TOÀN BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN VÀ 1/2 TỈNH LAI CHAU CHO VIỆT NAM.
Tiếc rằng sách dạy sử ở VN hiện nay không viết về cuộc xâm lược của nhà Thanh dưới thời Từ Hy Thái hậu và hoàn ước Pháp Thanh 1885 và 1887. Và người dân VN ko biết tên chỉ huy của nhà Thanh đem quân sang VN xâm lược là Phùng Tử Tài !
Sự suy vong của Vương quốc Chăm Pa
( Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Chăm Pa độc lập được từ năm 192, phát triển cho đến
thế kỷ thứ 10 thì bắt đầu suy yếu, đến năm 1832 thì hoàn toàn mất nước.
Thất thủ và bỏ kinh đô Indrapura
Năm 982, vua Lê Hoàn của Đại Cồ Việt đã cử Từ Mục, Ngô Tử Canh sang Indrapura đi sứ nhưng các sứ thần bị bắt giam, vua Lê Hoàn quyết định thân chinh đánh Chăm Pa. Quân Đại Việt đã giết vua Parameshvaravarman[2], tàn phá kinh đô Indrapura (làng Đồng Dương, Thăng Bình, Quảng Nam ngày nay) và người Chăm phải bỏ Indrapura dời kinh đô xuống Vijaya (Bình định ngày nay).
Mất 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố
Chính.
Sau khi người Chăm rời bỏ kinh đô Indrapura, mâu thuẫn giữa Chăm Pa và Đại Việt vẫn không chấm dứt.
Năm 1020, vua Lý Thái Tổ sai Khai Thiên Vương Lý Phật Mã và Đào Thạc Phụ đem quân đi chinh phạt Chiêm Thành ở trại Bố Chính (nay thuộc các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình), thẳng đến núi Long Tỵ (nay thuộc Quảng Trạch, Quảng Bình), chém được tướng của Chiêm Thành là Bố Linh tại trận, quân Chiêm chết đến quá nửa.
Năm 1044, với lý do "Tiên đế mất đi, đến nay đã 16 năm rồi, mà Chiêm Thành chưa từng sai một sứ giả nào sang", vua Lý Thái Tông thân chinh đi chinh phạt ra oai với Chiêm Thành. Binh lính chưa chạm mà quân Chiêm đã tan vỡ, quan quân đuổi chém được 3 vạn thủ cấp. Tướng Quách Gia Di chém được đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu tại trận. Đoạt được hơn 30 voi thuần, bắt sống hơn 5 nghìn quân Chiêm, số còn thì bị giết chết, xác chất đầy đồng. Vua tỏ ý cảm khái, xuống lệnh rằng: "Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha". Sau đó vua Lý Thái Tông đem quân vào thành Phật Thệ bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ giỏi hát múa đem về nước. Khi đến hành điện Ly Nhân (nay là huyện Lý Nhân, Hà Nam), vua sai nội nhân thị nữ gọi Mỵ Ê là phi của Sạ Đẩu sang hầu thuyền vua. Mỵ Ê phẫn uất lấy chăn quấn vào mình nhảy xuống sông chết. Vua khen là trinh tiết, phong là Hiệp Chính Hựu Thiện phu nhân.
Năm 1068, Chăm Pa quấy nhiễu biên giới Đại Việt. Năm
1069, Vua Lý Thánh Tông thân chinh đánh Chăm Pa,[3],
tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy hải quân tấn công đốt
phá kinh đô Vijaya[4].
Vua Rudravarman (Chế Củ) bị bắt làm tù binh và sau đó phải đổi ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố
Chính (3 châu này thuộc vùng Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) để lấy tự
do[5][6].
(Xem thêm Chiến tranh Việt-Chiêm 1069)
Người Khmer chinh phục Vijaya
Năm 1203, tướng của vua Khmer Jayavarman VII chiếm được Vijaya và biến Chăm Pa trở lại thành một tỉnh của Angkor. Chăm Pa hoàn toàn mất độc lập cho đến năm 1220[7].
Dâng hai châu Ô, Lý cho
Đại việt:
Năm 1306, Nhà Trần gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Simhavarman III. Chế Mân đem 2 châu Ô, Lý làm quà sính lễ. Năm 1307, Chế Mân chết. Nhập nội hành khiển thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung[8] sang Chiêm Thành lừa người Chiêm cứu công chúa Huyền Trân đem về để khỏi bị hỏa thiêu theo tục lệ Chiêm Thành.
Mất Chiêm Động, Cổ Lũy:
Năm 1402, Hồ Hán Thương đem đại quân đi chinh phạt Chiêm
Thành. Hai bên đụng trận, tướng Việt là Đinh Đại Trung và tướng Chiêm Thành là
Chế Tra Nan đều tử trận. Vua Chiêm Jaya Indravarman VII (Tiếng Việt là Ba Đích
Lại) hoảng sợ, sai cậu là Bố Điền dâng đất Chiêm Động (huyện Thăng Bình, Tam
Kỳ, Quế Sơn, Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam), một voi trắng, một voi đen và các sản
vật địa phương, để xin rút quân. Bố Điền tới, Quý Ly bắt ép phải dâng nộp thêm
cả động Cổ Lũy (nay là các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ,
Quảng Ngãi).
Kinh đô Vijaya thất thủ và bị phá hủy hoàn toàn:
Do vua Chăm là Bí Cai (Bichai) nhiều lần xua quân quấy nhiễu, năm 1446, vua Lê sai Trịnh Khả, Lê Thụ và Lê Khắc Phục đã đem 60 vạn quân tấn công Chăm Pa, thành Vijaya rơi vào tay quân Việt, vua Chăm là Bí Cai (Bichai) bị bắt sống mang về Thăng Long cùng với nhiều phi tần[9].
Năm 1470, quân Đại Việt do vua Lê Thánh Tông trực tiếp chỉ huy lại tấn công
Chăm Pa. Quân Đại Việt lúc này đã rất mạnh và có tổ chức tốt. Ngược lại quân
Chăm rất yếu và thiếu tính tổ chức[10].
Thủy quân Đại Việt do các tướng Đinh
Liệt và Lê Niệm chỉ huy tấn công trước. Lê Thánh Tông dẫn đại quân
theo sau[11].
Tháng 2 năm đó, vua Chăm là Trà Toàn cử em đem tượng binh và bộ binh đến sát
trung quân của vua Lê Thánh Tông[12].
Các tướng Lê Hy Cát, Hoàng Nhân Thiêm, Lê Thế và Trịnh Văn Sái đem thủy quân
chắn giữ cửa biển Sa Kỳ (nay là huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi) chặn lối rút
của quân Chăm[12].
Vua Lê Thánh Tông dẫn thủy quân tiến đánh quân Chăm[12] ở
cửa Áp (tức cửa Tân Áp, sau là cửa Đại Áp ở huyện Tam Kỳ tỉnh Quảng
Nam)[12] và
cửa Tọa (tức cửa Cựu Tọa sau là cửa Tiểu Áp cách cửa Đại Áp hơn 7 dặm[13]).
Đồng thời bộ binh Đại Việt do Nguyễn Đức Trung ngầm đi đường núi tấn công
quân Chăm khiến quân Chăm phải rút về thành Vijaya[12].
Quân Việt nhanh chóng tiến lên đánh bại quân Chăm và bao vây thành Vijaya[14] Thành
Vijaya thất thủ vào ngày 2 tháng 3 năm 1471 sau bốn ngày
giao tranh[10].
Vua Chăm là Trà Toàn bị bắt sống và chết trên đường chở về Thăng Long[15].
Ít nhất hơn 60.000 người Chăm bị giết và 30.000 bị bắt làm nô tỳ cho quân Đại
Việt. Kinh thành Vijaya bị phá hủy hoàn toàn[10].
Sau chiến thắng vua Lê Thánh Tông đã sáp nhập các địa khu Amaravati và Vijaya[10] và
lập nên thừa tuyên Quảng Nam và duy trì vệ quân Thăng Hoa ở đây [16].
Vương quốc Chăm Pa trở thành Thuận Thành Trấn.
Cho đến sau năm 1471, thì đất đai của vương quốc Chăm Pa chỉ còn Harek Kah Harek Dhei (Phú Yên ngày nay) trở vào,.
Năm 1611, do người Chiêm Thành lấn chiếm biên ải, chúa Nguyễn Hoàng đã sai một viên tướng gốc Chăm là Văn Phong đưa quân vào dẹp loạn và đặt ra phủ Phú Yên gồm hai huyện Tuy Hòa và Đồng Xuân, phong cho Văn Phong làm lưu thủ đất này.[17]
Năm 1653, vua Chiêm là Bà Tranh xâm phạm biên cảnh, chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) sai người đánh dẹp, người Chiêm đầu hàng. Nhân đó lấy đất từ Phú Yên vào đến sông Phan Rang đặt làm 2 phủ Thái Khương, Diên Ninh và gồm 5 huyện: Quảng Phước, Tân Định (thuộc phủ Thái Khương), Phước Điền, Vinh Xương và Hoa Châu (thuộc phủ Diên Ninh). Vùng đất này nay tỉnh Khánh Hoà. Sau đó chúa Nguyễn chiếm lãnh thổ Cao Miên ở vùng Biên Hòa ngày nay. Thế là Chăm Pa trở thành một lãnh thổ hoàn toàn bị bao vây, ở phía bắc giáp căn cứ quân sự nhà Nguyễn ở Cam Ranh và phía nam giáp căn cứ quân sự nhà Nguyễn ở Biên Hòa.
Năm 1692, vua Chăm tên Bà Tranh đã tấn công vào phủ Diên Ninh và dinh Bình Khang tức vùng Diên Khánh ngày nay. Chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh đánh đuổi. Quân Chiêm và Việt đã giao tranh ác liệt tại Sông Lũy, quân Chiêm Thành bại trận, vua Chiêm và hoàng gia bị bắt.
Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu cho thành lập khu tự
trị Thuận Thành Trấn tại vùng đất của Chiêm
Thành, chúa Chăm được gọi là Trấn Vương, là thần hạ của chúa Nguyễn.
Lịch sử Chăm Pa chấm dứt:
Năm 1697, chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập phủ Bình Thuận (từ Phan Rang trở về tây) chia làm hai huyện An Phước và Hòa Đa[18]. Cũng từ đây vùng đất Chăm còn lại (Phan Rang trở về đông) đã trở thành phiên thuộc của chúa Nguyễn và mối quan hệ giữa chúa Nguyễn và chúa Chăm là mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương[18].
Đến năm 1712, chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban hành một bản hiệp ước mới gọi là Ngũ điều Nghị định, trong đó khẳng định quyền xét xử của các chúa Chăm đối với các thần dân người Chăm và cũng quy định nghĩa vụ của các chúa Chăm đối với các chúa Nguyễn. Để giải quyết xung đột giữa người Chăm và người Việt, bản hiệp ước quy định các xung đột này sẽ do chúa Chăm tức Trấn Vương cùng với quan Cai bạ và quan Ký lục (cả hai là người Việt) phán quyết[19]. Chế độ tự trị này được duy trì cho đến tận năm 1832 qua các đời chúa Nguyễn, thời Tây Sơn và thời kỳ đầu triều đại nhà Nguyễn. Tuy nhiên, các đời chúa Chăm sau Po Saktiray Da Patih không còn duy trì được mối quan hệ trực tiếp với các chúa Nguyễn và mọi công việc của Thuận Thành Trấn được tiến hành thông qua phủ Bình Thuận[18] cho đến tận cuộc nội chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn.
Năm 1793, phiên vương Thuận Thành là Tá (gọi theo Tiền Biên; tên Chăm: Po Tithun da parang) theo phe Tây Sơn bị Nguyễn Ánh đánh bại. Nguyễn Ánh cho tướng người Chăm của phe mình là Thôn Bá Hú (tức Nguyễn Văn Hào, gọi theo Tiền Biên, tên Chăm: Po Lathun da paguh) làm Chánh trấn Thuận Thành và trong năm 1794 đặt chế độ chánh trấn và phó trấn và bỏ chế độ phiên vương.[20]
Năm 1832, nhân dịp có cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi ở phía Nam
người Chăm lại nổi dậy chống lại vua Minh
Mạng nhưng không thành công.[18].
Chính quyền tự trị hạn chế của người Chăm chấm dứt tồn tại vào năm 1832, khi Hoàng
đế Minh Mạng đổi Thuận Thành thành phủ Ninh Thuận và
đặt quan lại cai trị trực tiếp[21].
Lịch sử vương quốc Chăm Pa chính thức dừng lại ở đây[22].
Nguyên nhân sự suy
vong của Vương quốc Chăm Pa
Chính sách mở rộng bờ cõi của vua chúa Việt:
Nếu chiến tranh của Chăm Pa chống nước láng giềng là chiến tranh "chinh phạt" để làm suy yếu đi sức mạnh quân sự và chính trị của phe địch, thì đối với Đại Việt, ý niệm về chiến tranh hoàn toàn đối ngược. Chiến tranh không chỉ nhằm mục tiêu chinh phạt phe địch đơn thuần mà theo đó là chiếm lấy tài sản và đất đai về quốc gia của mình.[23]
Làn sóng di dân người Việt:
Do thiếu đất đai để canh tác, dân Việt tràn xuống phía nam, tức Chăm Pa. Từ thế kỷ thứ 17, chúa Nguyễn kêu gọi dân Việt xung phong vào đội ngũ khai khẩn đất hoang ở khu vực biên giới phía nam của mình. Họ vừa làm dân, vừa làm chiến sĩ để phòng thủ đất đai chống lại sự quấy nhiễu của Chăm Pa ở biên giới. Chúa Nguyễn cũng khuyến khích dân Việt vượt biên giới tràn sang Chăm Pa khai thác những khu đất hoang mà dân bản xứ Chăm Pa không canh tác. Sau đó, họ bắt đầu khai thác những khu vực phì nhiêu hơn do dân bản xứ bán nhượng lại cho họ. Lợi dụng sự hiện diện của người Việt trên lãnh thổ Chăm Pa, chúa Nguyễn bắt đầu can thiệp vào nội bộ của vương quốc này với danh nghĩa là bảo vệ quyền lợi cư dân người Việt. Sau đó, chính những cư dân Việt này tham gia vào các cuộc chiến tranh với Chăm Pa
Hậu quả các cuộc nội chiến giữa dân tộc Việt:
Trong cuộc Nam bắc phân tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn, để tiến quân chống chúa Trịnh phương bắc, chúa Nguyễn đã phát động phong trào Nam Tiến về phía nam, tức là về phía lãnh thổ Chăm Pa để củng cố thế lực quân sự và kinh tế của mình.
Cuộc nội chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh đã biến lãnh thổ Chăm Pa (khu vực Phan Rang và Phan Rí) thành bãi chiến trường đẫm máu trong vòng 30 năm. Các tầng lớp lãnh đạo Chăm Pa chia thành hai phe nhóm do Tây Sơn và Nguyễn Ánh dựng lên. Khi chiếm Chăm Pa để làm cứ điểm quân sự, Nguyễn Ánh thành lập một chính quyền mới của vương quốc này thân Nguyễn Ánh. Và khi tiến quân vào Chăm Pa, Tây Sơn lại thanh trừng những phần tử người Chăm Pa theo Nguyễn Ánh để rồi thành lập một chính quyền khác thân của Tây Sơn.
Mất liên lạc với thế giới:
Trước năm 1471, Chăm Pa là hải cảng quan trọng trên đường hàng hải nối liền biển Nam Hải và Ấn Độ Dương, cũng là nơi tập trung nhiều tàu bè của các thương thuyền quốc tế. Sau khi thất thủ Đồ Bàn năm 1471, thất thủ Harek Kah Harek Dhei (Phú Yên ngày nay) năm 1611, và Nha Trang vào năm 1653, các tàu bè quốc tế không còn ghé bến Chăm Pa nữa. Chăm Pa hoàn toàn bị cô lập không còn đường dây liên lạc với các nước láng giềng kể từ thế kỷ thứ 17.
Mỹ nhân kế:
Năm 1301, nhân dịp viếng thăm Chăm Pa, thượng hoàng Trần Nhân Tông hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô và Lý (khu vực tỉnh Thừa Thiên). Đối với Chăm Pa đây là món quà sính lễ quá đắt.
Năm Tân Mùi (1631), vua Chăm Pa là Po Romé (1627-1651) kết hôn với công nữ Ngọc Khoa của nhà Nguyễn mà sử liệu tiếng Chăm gọi là Bia Ut (công chúa miền bắc). Theo truyền thuyết của Chăm Pa, Bia Ut đến vương quốc này với một sứ mạng mà nhà Nguyễn đã giao phó, đó là làm thế nào để Po Romé chặt bỏ cây Kraik, biểu tượng cho thần quyền trấn giữ vương quốc này. Còn theo các học giả Chăm Pa, Bia Ut đến Chăm Pa làm gián điệp, nhằm báo cáo cho nhà Nguyễn biết mọi chi tiết liên quan đến tổ chức chính trị và quân sự của quốc gia này. Sau khi nhận đủ tin tức, nhà Nguyễn xuất quân tấn công Po Romé. Trong cuộc chiến này, Po Romé bị quân nhà Nguyễn vây bắt đem nhốt trong rọ sắt để khiêng về Thuận Hóa.
Thể chế liên bang lỏng lẻo:
Trong khi Đại Việt là một thể
chế quân chủ tập quyền thì Chăm Pa không phải là quốc gia thống nhất, trung
ương tập quyền, mà là một vương quốc liên bang lỏng lẻo với năm tiểu vương quốc
đó là Indrapura, Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga.
Mỗi tiểu vương quốc có vua chúa riêng, hành chánh riêng và cách điều hành riêng.
Cơ cấu tổ chức này không phát huy mạnh được ý thức hệ đoàn kết của một dân tộc
và thường làm suy yếu đi tiềm năng quân sự của quốc gia một khi vương quốc này
bị tấn công bởi một nước láng giềng.
Nguyên nhân suy tàn của vương quốc Champa
Trà Thanh Toàn
Vì sao Chiêm Thành mất nước? Do Đại Việt hay vì xung đột xã hội Chăm Pa ?
Phan Hưng Nhσn
Chăm Pa độc lập được từ năm 192, phát triển cho đến
thế kỷ thứ 10 thì bắt đầu suy yếu, đến năm 1832 thì hoàn toàn mất nước.
Cό người cho rằng: “Công bằng mà nόi thὶ dân tộc nào cῦng cό đầu όc thực dân cἀ, không nhiều thὶ ίt, nhưng tôi nghῖ rằng thực dân Việt siêu hσn thực dân Phάp và Tàu nhiều, không tin ư? Thὶ Chiêm Thành và Thὐy Chân Lᾳp đᾶ bị xόa trên bἀn đồ thế giới đό.” Tuy nhiên, xе́t lᾳi lịch sử bang giao Việt – Chiêm thὶ sự SỰ SUY THOÁI VÀ TIÊU VONG cὐa CHIÊM THÀNH KHÔNG PHẢI ĐẾN TỪ THAM VỌNG BÀNH TRƯỚNG CỦA NGƯỜI VIỆT…
Sự thật là, hiện tượng người Việt
từ lưu vực sông Hồng dễ dàng Nam tiến sinh sống trên vὺng đất cῦ cὐa Chiêm
Thành và đồng bằng sông Cửu Long phần nhiều không phἀi là do tham vọng bành
trướng cὐa người Việt, mà là một hệ quἀ tất yếu cὐa sự suy thoάi bên trong
chίnh cάc chίnh sάch trị quốc cὐa người Chiêm thời bấy giờ.
Nước Chiêm Thành ( Chăm Pa ) :
Người Việt Nam thường gọi người Chiêm là Chàm. Tên Chiêm Thành là do người Hάn đặt ra. Người Chiêm gồm nhiều sắc tộc khάc nhau. Mỗi sắc tộc lᾳi bao gồm nhiều thị tộc riêng lẻ, thường hay lẫn lộn đάnh nhau. Cό hai thị tộc mᾳnh nhất:
Thị tộc Cây Dừa (Narikelavamca hay Kokosno) sống ở vὺng đất Indrapura phίa bắc thuộc cάc tỉnh Quἀng Nam – Đà Nẵng và Nghῖa Bὶnh ngày nay; vὺng lᾶnh thổ họ cό tên là Amaravati (từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 10).
Thị tộc Cây Cau chiếm cứ vὺng lᾶnh thổ mang tên là Panduranga từ đѐo Cὺ Mông đến lưu vực sông Đồng Nai.
Do tập tục, lề thόi khάc nhau nên giữa hai thị tộc này cῦng thường xἀy ra xô xάt. Cάc thị tộc nhὀ khάc tuy sống trong hai vὺng này nhưng tᾳi cάc nσi rừng nύi vẫn giữ độc lập với nhau. Tổ chức chάnh quyền không chặt chẽ như thế, từ nội bộ Chiêm mầm mống chia rẽ vὶ sắc tộc đᾶ cό sẵn. Thêm vào đό, giới thượng tầng tᾰng lữ và quу́ tộc tuy thiểu số lᾳi điều khiển đa số dân chύng quά nghѐo khổ. Người Chàm thường hoặc là làm nông, đi biển hoặc làm hἀi tặc.
Khoἀng nᾰm 605, thị tộc Cây Cau trở nên hὺng mᾳnh và cai
quἀn luôn vὺng lᾶnh thổ Indrapura phίa Bắc cὐa thị tộc Cây Dừa để thành lập
nước Chiêm Thành. Chάnh quyền Chiêm thường đem quân đi cướp bόc hoặc chinh
phᾳt khắp nσi. Trên mặt biển, họ tổ chức những đoàn cướp biển. Hἀi tặc Chiêm
một thời là mối hᾶi hὺng cho những thưσng thuyền qua lᾳi ở biển Đông từ Nam
Trung Hoa cho đến Nam Dưσng. Suốt thời gian dài hἀi tặc Chiêm hὺng cứ vὺng biển
Đông cho đến thời cάc nước phưσng Tây làm chὐ Ấn Độ Dưσng và Thάi Bὶnh Dưσng
với những tàu bѐ lớn, trang bị sύng ống tối tân, ngᾰn trở hoᾳt động cὐa những
người sống nghề cướp biển với những hἀi thuyền nhὀ và khί giới thô sσ.
Hoᾳt động hἀi tặc và buôn bάn trên biển
Cάc hἀi thuyền Chiêm thường đi gây hấn nhiều nσi nên Chiêm Thành thường bị cάc nước đem quân đάnh trἀ. Trung Hoa tuy ở xa nhưng cῦng đᾶ hai lần đến đάnh Chiêm Thành vào cάc nᾰm 605 và 1282.
Sẵn cό lực lượng hἀi thuyền hὺng mᾳnh, thưσng gia Chiêm buôn bάn nhiều nσi khắp Đông Nam Á làm cho vưσng quốc Jawa chύ у́ vὶ bị cᾳnh tranh. Người Jawa hai lần đάnh cướp Chiêm Thành. Một lần vào nᾰm 774, người Jawa đάnh chiếm và tàn phά thị trấn Aya Tra (Nha Trang) và nᾰm 787, họ đάnh phά thị trấn Panra (Phan Rang), gây nhiều tổn hᾳi cho dân chύng địa phưσng. Sự bang giao giữa hai nước về sau tốt hσn vào cuối thế kỷ thứ 9, sau cάc cuộc trao đổi viếng thᾰm giữa sứ bộ hai nước và nhất là sau khi vua Chiêm Chế Mân lấy công chύa Tapani cὐa vưσng quốc Jawa.
Chiêm Thành và nước Việt
Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022
Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2022
Thứ Năm, 1 tháng 9, 2022
PHẢI CHĂNG TỪ TRONG QUÁ KHỨ ĐÃ CÓ “LỄ HỘI KHAI ẤN”?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải
“TẤT CẢ CÁC LỄ HỘI KHAI ẤN
ĐỀU BỊA ĐẶT”
Ai cũng biết lễ hội có hai phần: Phần Lễ và phần Hội. Lễ là phần tâm linh, phần này nhằm mục đích cố kết cộng đồng bằng tâm thức, hội tụ quanh một hoặc nhiều vị thần nào đó mà cộng đồng tôn thờ làm phúc thần, để che chở cho cả cộng đồng. Thần linh có thể là một vị nhân thần có công lớn với đất nước, cũng có thể là một người dẫn dân đi khai hoang lập ấp, sau thành xóm thành làng, dân cư đông đúc, đời sống khấm khá, cộng đồng đó tôn thờ người ấy làm thành hoàng làng để tỏ lòng biết ơn. Cũng có thể là người đã đem một nghề nào đó về cho cả làng sinh sống rồi trở thành làng nghề, chính người đó được tôn vinh làm tổ nghề và đưa vào điện thần thờ làm Thành hoàng. Lại có vùng thời tiết dữ dội, gió mưa bão lụt khôn lường, dân rước thiên thần vào thờ làm Thành hoàng làng, như Long Hải đại vương. Hoặc cầu mưa thuận gió hòa mùa màng tốt tươi, dân thờ Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp điện tức là các thần Mây - Mưa - Sấm - Sét.
Dù thờ thần nào cũng là sự biểu lộ lòng biết ơn của cộng đồng đối với thần linh. Vì vậy phần lễ là linh hồn của mọi lễ hội.
Sau các nghi thức rước, tế và cúng kiếng của lễ, tiếp đó là phần hội.
Khác với lễ, chỉ có một số ít đại biểu được cộng đồng lựa chọn vào việc thờ cúng và tế rước thần linh. Trái lại, hội là phần của toàn thể cộng đồng, ai cũng có thể tham gia tùy sở trường và năng khiếu, không phân biệt giầu nghèo, đẳng cấp. Trong hội có nhiều trò vui, ví như vật, đánh đu, đánh cờ, chọi gà, chọi chim, đánh pháo đất, đi kheo, hát chầu văn (lên đồng), hát chèo, hát đúm, đánh bài tổ tôm điếm hoặc tam cúc điếm vv… Cho nên trong hội, có thể trò này anh là người diễn, sang trò khác anh lại là người xem. Do tính cộng đồng cao, nên lễ hội là một sinh hoạt luôn hấp dẫn và không thể thiếu của cư dân nông nghiệp, qua đó lễ hội còn biểu thị khát vọng của người lao động.
Hội của nước ta thường tổ chức vào mùa xuân hoặc mùa thu là thời điểm nông nhàn. Hội mùa thu chỉ lác đác mà tập trung hội vào mùa xuân.
Như các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, hội khai sớm nhất là hội Chùa Hương Tích huyện Mỹ Đức, xưa thuộc tỉnh Hà Đông. Hội mở từ ngày 6 tháng giêng và kéo dài suốt 3 tháng mùa xuân. Đây là hội dài ngày nhất.
Kết thúc mùa hội xuân là hội Gióng làng Phù Đổng, tổ chức vào ngày 8 tháng tư (âm lịch) tức là đầu mùa hạ.
Tuyệt đại đa số các lễ hội ở nước ta là hội làng. Cũng có một số hội vùng là do sức thu hút của hội đó chứ không có quy định nào của nhà nước, kể cả thời có vua quan thống trị. Các hội vùng nổi tiếng như hội Chùa Hương (Hà Tây), hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương), hộ Phủ Giầy (Nam Định), hội núi Bà Đen (Tây Ninh), hội Bà Chúa Xứ (An Giang), hội đền Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá) vv…
Hội của cả nước là rất hiếm. Như hội Đền Hùng ngày nay có quy mô cả nước cũng mới ra đời từ năm 2000, sau khi có quyết định của Quốc Hội, nâng tầm vóc ngày giỗ các vua Hùng (10 tháng 3 âm lịch) làm ngày Quốc lễ.
Trong tất cả các danh mục lễ hội được tổ chức công khai trong cộng đồng, từ hội làng đến hội vùng, hội tầm quốc gia, kể từ vài trăm năm nay không thấy có loại lễ hội nào gọi là “ Lễ hội khai ấn”.
Tuy nhiên, mỗi cuối năm, trước khi nghỉ tết, các chánh văn phòng của các cơ quan nhà nước từ triều đình đến tỉnh, huyện đều thu dọn các đồ văn phòng, đặc biệt là ấn triện, niêm phong cất đi, gọi là phong ( gói ) ấn. Sang giêng, tới ngày các cơ quan làm việc, thì những người giữ ấn tại các cơ quan, lại khai ( mở) ấn ra. Đó là công việc thuần túy sự vụ hành chính, không hề có nghi lễ gì trong việc này.
THỬ DÒ TÌM TRONG LỊCH SỬ XEM CÓ THẤY “LỄ HỘI KHAI ẤN”
Nước ta bị bọn thống trị Trung Hoa đô hộ cả ngàn năm, khi giành được quyền độc lập tự chủ vẫn phải dùng chữ Hán. Do đó về lễ nghi, phong tục ảnh hưởng khá nhiều từ văn hóa Trung Hoa.
Tuy ảnh hưởng, nhưng văn hóa phong tục của dân tộc Việt Nam hoàn toàn khác với người Hán, như Nguyễn Trãi từng viết trong “ Cáo bình Ngô”:
Duy ngã Đại Việt chi quốc
Thực vi văn hiến chi bang
Sơn xuyên chi phong vực ký thù
Nam Bắc chi phong tục diệc dị.
(Như nhà nước Đại Việt ta
Thực là một nước văn minh
Núi sông bờ cõi đã riêng
Phong tục Bắc – Nam cũng khác)
Để xác định được khách quan, ta thử khảo sát việc lễ của Trung Hoa, và bắt đầu từ bộ “Lễ ký” tức là sách kinh điển về việc lễ của Trung Hoa chép từ thời cổ đại, có cả sự nghị bình từ các đời Hán - Đường - Tống - Nguyên - Minh - Thanh.
Đọc kỹ các việc lễ ở đây từ lễ thầy học đến lễ vua chúa về đủ mọi phương diện từ trung hiếu đến quan, hôn, tang, tế(1) vv… tuyệt nhiên không có một thứ lễ nào gọi là “Lễ khai ấn”. Ngoài ra còn tham khảo thêm cả Kinh Thi và Kinh Xuân Thu của chính Khổng Tử san định và trứ tác.
(1).( Quan là lễ đội mũ cho con trai đến tuổi trưởng thành. Hôn là việc cưới hỏi. Tang công việc đối với người chết. Tế là thờ cúng tế tự.)
Lại xét trong lịch sử nước nhà thì Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử lớn nhất do Lê Văn Hưu biên soạn, hoàn tất năm 1272. Sách chép từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng. Sau Phan Phu Tiên chép tiếp từ 1223 đến 1427 gọi là Đại Việt sử ký toàn thư tục biên. Hai bộ sử này tuy bị giặc Minh cướp và đốt hết, nhưng khi soạn Đại Việt sử ký toàn thư (bản đang lưu hành) Ngô Sỹ Liên có sưu tập và tham khảo cốt yếu ở hai bộ sử trên.
Sách này chép kỷ nhà Trần rất kỹ, nhưng về lễ nghi, phong tục không thấy đề cập đến cái gọi là “Lễ khai ấn”. Và trước đó từ kỷ nhà Triệu qua Đinh - Lê - Lý cũng không thấy bóng dáng “Lễ khai ấn”.
Tiếp nhà Nguyễn là thời đại chăm chút đến việc biên tu quốc sử vào bậc nhất, và họ cũng để lại cho hậu thế một khối lượng sách khổng lồ ghi chép về đủ thứ. Đặc biệt là quốc sử. Thế nhưng khảo trong bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, và cả bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” đều không thể tìm ra cái gọi là “Lễ khai ấn” hoặc “Lễ hội khai ấn”.
Và điều này mới quan trọng, tức là cả bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú biên soạn hết sức công phu. Tìm khắp trong phần “Lễ nghi chí”, có đủ các thứ lễ cực kỳ phong phú, trừ “Lễ khai ấn”…
Thứ Hai, 22 tháng 8, 2022
Tản mạn về người viết Quốc ca Việt Nam (tiếp theo)
(Nhân 60 năm ngày nhạc sĩ Văn Cao viết Tiến quân Ca)
Nguyễn Thanh Giang
VŨ QUÝ, một trong những lãnh đạo chủ chốt,quyền bí thư
thành ủy Hà Nội giai đoạn tiền khởi nghĩa,người đã đưa Văn Cao đến với Cách Mạng
và trực tiếp đặt hàng ông sáng tác Tiến Quân Ca vào tháng10/1944.
Nhưng từ đó đến tháng 8/1945, VŨ QUÝ mất tích không lý do
khỏi lịch sử đảng và lịch sử VN nói chung !
Điều gì đã thật sự xảy ra ?
Chính sử,chính giới vốn rất tình nghĩa khắc ghi công đức với
các đồng chí đã hy sinh thời bí mật ( như đối với Trần Phú,Hà Huy Tập,Nguyễn Văn
Cừ,Ngô Gia Tự,Phùng Chí Kiên,Hoàng Văn Thụ….) sao lại im lặng và cố ý lờ cái
tên VŨ QUÝ ?
Xin nhắc lại: điều gì đã thật sự xảy ra với VŨ QUÝ ???
VI.
Này khúc Bồng Lai… và Sông mênh mông như bát ngát hát…
Trịnh Công Sơn - nhạc sĩ thiên tài, người vừa được nhận “Giải thưởng Âm nhạc Hoà bình Thế giới”, một Nobel về âm nhạc, mang tên “Trọn đời vì hoà bình” – đã nói về âm nhạc của Văn Cao như sau: “Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư”.
Những trí thức, những thanh niên sục sôi tinh thần cách mạng trước 1945 đã từng cuồng nộ với Hò kéo gỗ Bạch Đằng Giang (1941), Gò Đống Đa (1942), Thăng Long hành khúc (1943)… qua những ca từ hùng dũng: Cố bước bước trên đường thơm gió mát. Ta đi đi đi đi thăm gò xưa chất thây. Đống Đa còn chốn đây…, những Ơi Thăng Long! Ơi Thăng Long! Ơi Thăng Long ngày mai. Xây đắp dưới vinh quang bằng chí khí anh hùng…
Các thế hệ học sinh sau Cách mạng Tháng Tám có lẽ không ai không thuộc bài Làng tôi. Ngày 10 tháng 2 năm 1993, sau buổi gặp giữa ông và một số trí thức Việt Nam với tổng thống F. Mitterand, hai câu: Ngày giặc Pháp đốt làng triệt thôn và Ngày khi quân Pháp qua đã được đề nghị đổi thành: Ngày giặc ác đốt làng triệt thôn, và Ngày khi quân ác qua.
Cái tâm trạng khổ đau của người dân mất nước:
Sao đàn u hoài gì mùa thu?
Sao đàn u hoài gì mùa thu?
Tri âm nghe thử dây đồng vọng
Lạc lõng đêm vàng khi nhạc ru
(Một đêm đàn lạnh trên sông Huế)
cái khắc khoải mông lung của một trí thức trẻ muốn tìm đường:
Sương buông chừng núi vấn vương
Tiếng chim lạ cất tiêu thương buồn trời
Cái gì cũng thấy chơi vơi…
(Đêm ngàn, 22.11.1941)
có lúc đã đưa Văn Cao, cũng như nhiều trí thức đương thời, tìm đến thoát tục. Ông tìm lại Trương Chi để được sống với Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ. Trầm trầm không gian mới rung thành tơ. Vương vất heo may hoa yến mong chờ. Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ (Trương Chi – 1942 ). Ông đến Bến Xuân (một trong mấy ca khúc viết chung với Phạm Duy), bước đi run rẩy:
…Tới đây, chân bước còn ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền soi nước
…Tới đây, mây núi đồi chập chùng
Liễu dương hơ tóc vàng trong nắng
Ông thả lòng trong Chiều buồn trên sông Bạch Đằng:
Chiều dần rơi sương buông non ngàn xa trầm ngâm trên sông vắng
Bạch Đằng Giang sầu mơ bên lau xanh với bến nước xa xôi
Thuyền ai kia trôi theo dòng sông xanh không vang một tiếng người
Buồn ai đứng nhìn con sông xanh biếc ngày xưa mà nước mắt mờ rơi
Ông cứ thế, lang thang buồn rồi lạc vào Thiên Thai khi 18 tuổi. Song, nỗi buồn ông cao quý quá, đẹp quá. Nó vút lên thành: Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng…
Để ca ngợi Thiên Thai một cách muộn mằn, khiên cưỡng, Trần Bạch Đằng, cho đến năm 1986, mà còn viết: “…nếu hiện nay, Văn Cao vừa sáng tác xong bài Thiên Thai thì… đè anh xuống mà nện. Còn nửa thế kỷ trước, đó là chuyện khác ”.
Tôi thấy khó mà đồng ý được với ông Trần Bạch Đằng. Thiên Thai lúc nào cũng là Thiên Thai. Cái chốn tràn trề những nguồn hương duyên theo gió tiếng đàn xao xuyến, cái chốn Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần kia luôn luôn là niềm mộng tưởng trong sáng; là mục tiêu tột cùng của cách mạng. Tôi ước sao thanh niên ngày nay biết mê Thiên Thai để bớt sài hồng phiến, rủ nhau lao vào nhẩy xếch thác loạn; bớt lôi kéo nhau vật lộn điên cuồng làm giầu bằng mọi giá; và tán tụng hết lối ẩm thực phương Đông đến lối ẩm thực phương Tây.
Hát Thiên Thai, tôi nghĩ, sẽ cũng là một cách thiền để người ta vượt được lên trên những dục vọng vật chất tầm thường.
Thứ Tư, 10 tháng 8, 2022
Nga – chư hầu mới của Trung Quốc
Chiến tranh ở Ukraine đã biến Moscow thành đối tác cấp thấp của Bắc
Kinh như thế nào
FOREIGN AFFAIRS by Alexander Gabuev – August 9, 2022
(Alexander Gabuev là một thành viên cao cấp tại Quỹ Carnegie vì hòa bình quốc tế – Carnegie Endowment for International Peace)
Ba Sàm lược dịch
Cuộc chiến ở Ukraine đã cắt đứt Nga khỏi phần lớn thế giới phương Tây. Bị đe dọa bởi các lệnh trừng phạt, bị tố cáo trên các phương tiện truyền thông quốc tế và bị tẩy chay khỏi các sự kiện văn hóa toàn cầu, người Nga đang ngày càng cảm thấy cô đơn. Nhưng Điện Kremlin có thể dựa vào ít nhất một trụ cột hỗ trợ chính: Trung Quốc. Quyết định xâm lược Ukraine của Tổng thống Nga Vladimir Putin đã buộc Nga phải quay sang ngả mũ trước người đồng chí – gã khổng lồ Á-Âu của mình.
Trong thế kỷ 20, Liên Xô coi Trung Quốc – ít nhất là cho đến khi Trung-Xô chia rẽ vào những năm 1960 – như một người anh em họ nghèo hèn hơn, một quốc gia cần được dẫn lối chỉ đường và trợ giúp trong quá trình phát triển phù hợp hướng tới vị thế được tôn trọng. Nhiều thập kỷ sau, cục diện đã thay đổi một cách rõ ràng. Trung Quốc trong một thời gian đã tự hào về một nền kinh tế mạnh mẽ và năng động hơn, sức mạnh công nghệ lớn hơn và ảnh hưởng hơn về chính trị và kinh tế toàn cầu so với Nga. Vị thế bất đối xứng đó được dự báo sẽ chỉ trở nên rõ rệt hơn trong những năm tới vì chế độ của Putin phụ thuộc vào Bắc Kinh để tồn tại. Trung Quốc có thể sẽ ngấu nghiến được nhiều hơn trong thương mại nói chung với Nga. Nó sẽ trở thành một thị trường thiết yếu cho hàng xuất khẩu của Nga (đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên) trong khi người tiêu dùng Nga sẽ ngày càng phụ thuộc vào hàng hóa Trung Quốc. Và nó sẽ tận dụng tình trạng khó khăn của Nga để khẳng định đồng Nhân dân tệ vừa là một đồng tiền quốc tế chính và lại vừa thống trị trong khu vực.
Để giữ cho Trung Quốc hài lòng, các nhà lãnh đạo Nga sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận các điều khoản bất lợi trong các cuộc đàm phán thương mại, ủng hộ vị thế của Trung Quốc tại các diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, và thậm chí cắt giảm quan hệ của Moscow với các nước khác, chẳng hạn như Ấn Độ và Việt Nam. Trong bài viết của nhiều nhà phân tích phương Tây, Trung Quốc và Nga thường xuất hiện như một cặp đôi, hai cường quốc độc tài lớn đang tìm cách thay đổi trật tự quốc tế. Nhưng mối quan hệ của họ không phải là bình đẳng. Sự phụ thuộc của Điện Kremlin vào Trung Quốc sẽ biến Nga thành một công cụ hữu ích trong một cuộc chơi lớn hơn đối với Trung Nam Hải, một tài sản to lớn trong cuộc cạnh tranh của Bắc Kinh với Washington.
MẤT CẢNH GIÁC
Trước cuộc tấn công vô cớ của Nga vào Ukraine ngày 24 tháng 2, các quan chức ngoại giao và tình báo Trung Quốc đã cố gắng tìm hiểu sự tập trung quy mô của quân đội Nga tại biên giới với Ukraine và đánh giá những cảnh báo của Mỹ rằng một cuộc chiến đang diễn ra. Bắc Kinh tỏ ra nghi ngờ về những cảnh báo mà Washington đưa ra, khi cho rằng giống như nhiều chính phủ châu Âu, chi phí cho cuộc xâm lược đối với Nga sẽ lớn hơn nhiều so với bất kỳ lợi ích tiềm năng nào. Bất chấp những đồn đoán rằng Putin ít nhất đã thông báo trước một phần cho Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về kế hoạch của ông ta, chiến tranh bùng nổ dường như khiến Trung Quốc giật mình và đặt ra cho nước này một bài toán khó: Mình nên đứng ở vị thế nào? Nếu Trung Quốc ủng hộ Nga, nước này có thể phải đối mặt với các lệnh trừng phạt và mất quyền tiếp cận với công nghệ và thị trường phương Tây, một viễn cảnh khó lường. Nhưng nếu Trung Quốc chỉ trích hành động của Putin, nó có thể gây nguy hiểm cho mối quan hệ của họ với Nga.
Bắc Kinh coi mối quan hệ của mình với Moscow là tối quan trọng vì một số lý do.
Hai nước có chung đường biên giới dài 4.200 km. Mối quan hệ kinh tế của họ hoàn toàn bổ sung cho nhau: Nga giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng cần công nghệ và đầu tư, trong khi Trung Quốc có thể cung cấp công nghệ và đầu tư nhưng cần tài nguyên thiên nhiên.
Nga cũng là nguồn cung cấp vũ khí tinh vi chủ chốt cho Trung Quốc, lượng vũ khí đã gia tăng trong thập kỷ qua.
Là các quốc gia độc tài, cả hai đều ủng hộ lẫn nhau trong các thể chế quốc tế, trong đó đứng đầu là Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Họ hạn chế chỉ trích lẫn nhau về các vấn đề nhân quyền và thực hiện các cách tiếp cận tương tự đối với nhiều vấn đề toàn cầu, chẳng hạn như đặt ra các tiêu chuẩn về quản trị Internet mà cả hai quốc gia đều cho rằng cần được kiểm soát chặt chẽ hơn ở cấp quốc gia.
Tập và Putin có quan hệ gần gũi, đồng thời có chung mong muốn đưa đất nước của họ trở lại vị thế huy hoàng trước đây. Mối giao hảo song phương được thúc đẩy bởi cảm giác bất bình và có chủ đích — chủ yếu nhắm vào Hoa Kỳ, kẻ mà Trung Quốc và Nga cáo buộc đang tìm cách phủ nhận vị thế chính đáng của họ trên thế giới — một tình cảm chỉ phát triển mạnh mẽ hơn khi mà các thể chế chính trị của Trung Quốc và Nga đã trở nên chịu ơn với lối cai trị theo chủ nghĩa cá nhân của Tập và Putin.
Những lối nghĩ đó đã định hình phản ứng có thể đoán trước của Trung Quốc đối với cuộc xâm lược Ukraine vào tháng Hai. Bắc Kinh đã chuyển sang cách tiếp cận từng được thử nghiệm và thấy đúng đắn của mình trong các cuộc khủng hoảng trước đây do chủ nghĩa phiêu lưu của Điện Kremlin gây ra, chẳng hạn như cuộc chiến năm 2008 ở Gruzia, việc sáp nhập Crimea năm 2014 và hành động can thiệp của Nga vào cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2016.
Trung Quốc đã kiên định chiến thuật chân trong chân ngoài. Với những người đối thoại từ Ukraine và phương Tây, các quan chức Trung Quốc lưu ý rằng chính phủ của họ ủng hộ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine và tìm cách kết thúc nhanh chóng cuộc chiến. Với những đối tác Nga, các quan chức Trung Quốc nhấn mạnh rằng mối quan hệ thân thiết với Nga vẫn không bị xáo trộn, rằng Bắc Kinh phản đối các biện pháp trừng phạt đơn phương của phương Tây và họ chấp nhận quan điểm của Nga, rằng việc mở rộng NATO và sự sốt sắng của Washington nhằm thúc đẩy các liên minh quân sự do Mỹ dẫn đầu trên toàn thế giới đã tích tụ nên cuộc xung đột.
Những nỗ lực của phương Tây nhằm đưa Trung Quốc ra khỏi thế đứng trung lập này cho đến nay đã thất bại.
Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2022
HẠNH PHÚC
Tôi có một chuyện cay đắng về hạnh phúc, mà lại ở Tây Nguyên, nơi tôi gắn bó hơn nửa cuộc đời và yên trí đã hiểu đến tận cùng. Sự thể là ngày ấy, vậy mà thấm thoắt đã mười bảy năm, chúng tôi làm một bộ phim về Tây Nguyên và anh đạo diễn bỗng nảy ý tưởng độc đáo không sử dụng diễn viên chuyên nghiệp vào các vai chính, chỉ mời đúng người dân tộc tại chỗ. Lặn lội khắp cao nguyên từ cực bắc đến cực nam, cuối cùng chọn được hai cô gái Ba Na thật đẹp, cô em, xin gọi là H’Lan, năm ấy mười bảy, rực rỡ đến chói chang, cô chị, cũng xin gọi là H’Nga, mười chín, đằm thắm, đậm đà. Ngày ấy cao su quốc doanh chưa nhiều và lấn vào sát làng như bây giờ, các gia đình vẫn còn được ít rẫy, hôm chúng tôi đến hai chị em vừa ở rẫy về, đang tắm ngoài giọt nước đầu làng. Ở Tây Nguyên người ta gọi bến nước của làng là “giọt”, kể cũng hơi lạ, dòng nước trong và khỏe gần như bất tận được dẫn từ núi cao về theo một hệ thống những thân tre chẻ đôi nối vào nhau thô sơ mà khéo léo, có khi quanh co đến năm bảy cây số trong rừng, cuối cùng đổ ra thành hàng chục vòi, mát lạnh đến tê người những chiều hè oi nồng chưa tắt hẳn nắng, lại phảng phất mùi vị không thể lẫn của rừng sâu, thoảng thôi nhưng thấm tận da thịt. Nước tuôn ra mạnh hơn cả nước máy thành phố, sao gọi là giọt? Thì ra ở lâu mới biết, bến nước đầu làng, với người Tây Nguyên đi xa, hay người Tây Nguyên nay không còn làng, sẽ mãi mãi nhỏ từng giọt kỷ niệm cả kiếp không nguôi, vào tận đáy tâm hồn. H’Lan, bây giờ đã là một người đàn bà đẫy đà ba con mỗi lần gặp chúng tôi vẫn thường nhắc lại cái buổi chiều ấy, mười bảy năm trước, khi chúng tôi ra tìm em ở giọt, cô gái đang mặc nguyên cả quần áo vậy mà tắm, mơn mởn, tươi mát, khỏe mà mềm, rực rỡ mà dịu dàng. Nghe chúng tôi về “bắt người đi đóng phim”, cô sợ quá vùng té chạy. Đám con trai cũng đang tắm ở giọt, mình trần, chỉ mỗi chiếc khố, phô những múi thịt cuồn cuộn đen bóng đẫm nước, phá lên cười giòn tan…
Ừ vậy mà đã mười bảy năm…
H’Nga và H’Lang đi cùng chúng tôi hơn bốn tháng. Vào vai không đặc biệt xuất sắc, nhưng có những điều rất nhỏ diễn viên chuyên nghiệp học mấy cũng không bằng. Như cách vén váy sà xuống cạnh bếp ở góc nhà sàn, một chút buông thả mà kín đáo, xếp hai chân về một bên, và khẽ nghiêng đầu thổi bùng ngọn lửa vẫn âm ỉ ngày đêm; cách đứng dậy, gọn, khỏe, khoát dây gùi lên vai, bên này rồi bên kia, bước ra hiên, thoăn thoắt xuống cầu thang, gùi nặng thế mà thong dong đến lạ; hay buổi chiều tà ở rẫy về, cất tiếng ót ót gọi heo thả rong, và nhìn đàn heo rối rít ùa về như mẹ âu yếm đón đàn con… Trong nghệ thuật vốn vậy, chính những điều nhỏ tưởng không đáng kể đó tạo nên mùi vị không thể thay thế của tác phẩm…
Cuối cùng rồi phim cũng xong, đoàn giải tán. Tôi có tham gia đôi lần những đoàn làm phim như vậy, tôi biết, ba bốn tháng thôi, mà cảm giác rất dài. Bởi vì suốt những ngày tháng ấy người ta không chỉ đi cùng nhau, làm việc cùng nhau, ăn ở cùng nhau; mà còn cùng nhau, cố tình lôi kéo nhau, người ta còn đắm đuối, cố tình tự đánh chìm mình vào một cuộc sống khác hẳn ngoài đời, quyết liệt hơn, hạnh phúc hơn, đau đớn hơn, biết là giả chứ nhưng lại thật hơn thật vì sự tích tụ và cường độ cực cao của nó…
Rồi phim xong. Đột ngột. Bao giờ cũng đột ngột. Đột ngột màn hạ xuống. Một giấc mơ, một cơn mê dài đột ngột được đánh thức. Những người chuyên nghiệp, dạn dày sân khấu, chừng nào đã quen. Nhưng còn hai cô gái Ba Na của tôi? H’Nga ngơ ngác: Hết rồi sao bác? Em hỏi. Hết rồi thật. Ngày mai các cô sẽ trở về làng. Tôi ở trên này đã lâu, tôi biết cuộc sống đang chờ đợi các cô trở về không giống như trong phim các cô cùng chúng tôi vừa dựng, đúng hơn là vừa “sống”, mê đắm. Mà bây giờ, trở về, điều gì đang chờ các cô?… Hầu như có thể chắc chắn, mươi năm nữa, cũng chẳng cần lâu đến thế đâu, chỉ năm ba năm, nhớ tìm về thăm, tôi sẽ gặp hai người đàn bà trên rẫy, vẫn còn phảng phất nét đẹp xưa, nhưng sẽ khác lắm, cháy nắng, con – đứa thứ mấy? – địu trễ nãi trên lưng, đến chiếc áo bạc màu cũng chẳng cần cài cho hết cúc, mặc cho vú vê chảy dài lòng thòng… Tôi cũng biết điều đó, cái cảnh hầu như sẽ chắc chắn đó, sẽ chẳng là gì cả trong hạnh phúc mà họ vui nhận trong cuộc đời, thanh thản, bình yên… Nhưng có thể giúp họ tìm đến một hạnh phúc khác không, một hạnh phúc mới mà họ có thể và xứng đáng được hưởng… Bây giờ nhớ lại, quả thật tôi rắp tâm thực hiện một kế hoạch, mà tôi tin. Ở thiện chí trong sáng của mình. Tin ở điều thật sự tốt lành sẽ đem lại được cho những người tôi suốt đời yêu quý. Còn hơn thế, biết đâu một con đường hạnh phúc mới mẻ có thể mở ra cho bao người nữa trên này, cũng quá xứng đáng được có như hai cô…
Tôi có một anh bạn là giám đốc một cơ quan cấp tỉnh, cơ quan ấy có một cái nhà khách. Anh sẵn sàng nhận ngay hai chị em vào làm ở đấy, cả chị vợ anh cũng hăng hái đồng tình. Chính chị lo lắng thu xếp cho các cô vừa làm vừa học. Thậm chí chúng tôi còn trù tính các bước tiếp theo cho hai cô sau giai đoạn có thể là tạm thời ở nhà khách này. Không ai nói ra, dường như không dám nói hẳn ra, nhưng quả thật chúng tôi mong muốn đưa các cô “đi xa” hơn nhiều. Một cuộc đổi đời, tại sao không?… Không dám nói, vì nó đẹp quá, cái tương lai mong ước ấy, mà cái đẹp ở đời bao giờ cũng mong manh. Lại nữa… nhưng mong ước của chúng tôi, của tôi, cho hai cô, cho người khác, theo cách nghĩ của tôi, tôi có quyền không? Ta có quyền hình dung một cách hạnh phúc của mình suy ra, cho người khác không? Lo lắng không nhiều, mong ước tốt lành át đi tất cả…
Xong xuôi, tôi trở về Hà Nội, đinh ninh đã làm một việc “đúng lương tâm”, đúng cả tâm huyết lâu dài vẫn ấp ủ với vùng đất và người đã thành ruột thịt. Cũng có lúc lại thoáng vẩn lên đôi chút băn khoăn: chúng tôi đang làm một cuộc thử nghiệm, mà có thể là thử nghiệm với cả cuộc đời hai con người. Thực tế hay phiêu lưu… Hồi hộp chờ…
























