Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023

Họ Hồng Bàng và những vị thuỷ tổ của dân tộc Việt


Vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt mãi đến ngày hôm nay vẫn còn rất mù mờ, vì có rất ít nghiên cứu sâu xa về nguồn gốc dân tộc. Những bộ sử giáo khoa chỉ tạo thêm màu không khí buồn thảm, mặc cảm, cho những ai muốn đọc lại hay tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt. Các bộ sử Việt do các học giả người Việt phần lớn ghi lại khởi điểm từ thời Triệu Ðà đánh An Dương Vương, thời gian sau khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa, được xem như là thời điểm quá muộn màng đối với lịch sử về nguồn gốc dân tộc Việt.

( 1 )


Nếu bạn muốn hiểu nguồn gốc dân tộc Việt, điều kiện tiên quyết bắt buộc là phải hiểu nguồn gốc dân tại vùng Thái Bình Dương cùng những biến chuyển thay đổi về khí hậu, địa lý tại vùng nầy. Ðây là phần chuyển nhập trước khi vào truyền thuyết họ Hồng Bàng. Nếu không hiểu phần chuyển nhập nầy, thì khó mà thông hiểu truyền thuyết họ Hồng Bàng.

Phần chuyển nhập nầy cho chúng ta hiểu sự di chuyển của người Ðông-Nam-Á trong đó bao gồm tiền nhân người Việt vào thời trước khi hình thành dân tộc, đã từ vùng đất liền Ðông-Nam-Á đi qua Phi-Luật-Tân và xuống tận Úc Châu, đồng thời đi lên tận phía Bắc Trung Hoa đến Nhật Bản. Những điều ghi trên đã được tôi trình bày và chứng minh trong một số bài viết, qua khảo cổ như chứng minh xương súc vật của vùng Ðông-Nam-Á đã lên đến tận phía Bắc Trung Hoa mà các nhà khảo cổ đã tìm được chung với các loại sọ người Công Vọng Linh 公望玲( Kung-wang-ling ) nằm không xa người Lam Ðiền 藍田人(Lantian man) ở tỉnh Thiểm Tây và người Bắc Kinh (Peking man) ở tỉnh Hà Bắc của Trung Hoa.

Ðồng thời tôi cũng chứng minh qua những nhận định của các nhà khảo cổ Trung Hoa như ông Hoàng Vạn Ba 黃萬波 (Huang Wanbo) thuộc viện cổ sinh vật học của viện khoa học Bắc Kinh, nhà khảo cổ Bình Thái Hạo (Ping Ti-Ho) đều cho biết rằng người Lam Ðiền và người Bắc Kinh là những người từ phía Nam đi lên, cũng như những sọ tìm được tại nền văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao) là loại sọ từ Ðông-Nam-Á tức là từ phía Việt-Nam đi lên. Ngoài ra tôi cũng cho thấy ông J.Y. Chu với dẫn chứng về di truyền học mang tên “Genetic Relationships of Population in China” đăng trong tờ Tạp Chí Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia Hoa Kỳ, đã cho biết rằng, nguồn gốc của người Trung Hoa nói riêng và người Ðông Á (bao gồm người Nhật, Triều Tiên, Trung Hoa) nói chung là do giống người từ Ðông-Nam-Á đi lên.

Ngoài phần khảo cổ và di truyền học, tôi cũng dẫn chứng qua “dân tộc học” dựa vào những truyền thuyết của các giống dân tại vùng Thái Bình Dương như truyền thuyết của bộ lạc ở vùng Banaue của Phi-Luật-Tân cho biết tổ tiên của họ từ vùng Ðông-Nam-Á qua; cũng như truyền thuyết của thổ dân người Úc cho biết tổ tiên của họ từ Ðông-Nam-Á đi xuống.

Sau phần chuyển nhập, tôi vào phần phân tích truyền thuyết họ Hồng Bàng. Phần nầy gồm có định nghĩa Hồng Bàng, minh chứng khởi điểm của họ Hồng Bàng bằng cách so sánh sự phát triển dân tộc Việt đi song song với sự phát triển các dân tộc trên thế giới qua Nhân chủng và Khảo cổ học. Sau họ Hồng Bàng, tôi còn dẫn chứng cho thấy Phục Hi và Thần Nông là những lãnh tụ phát xuất từ miền Nam Trung Hoa đã bị các học giả Trung Hoa coi là “ngoại lai”, tức là không thuộc Trung Hoa vì lý do là không thuộc vùng Trung Nguyên. Cuối cùng tôi còn định nghĩa về nước Văn Lang cũng như dẫn chứng về sự hiện diện của Hùng Vương qua chứng tích “cái qua” được các nhà khảo cổ tìm được ở Hồ Nam có khắc tên vị vua Hùng thứ 14 tên là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao.

Tóm lại tôi đã định nghĩa, phân tích và giải thích truyền thuyết họ Hồng Bàng qua văn tự chữ Nho, qua dân tộc học với các truyền thuyết khác nhau, qua khảo cổ và nhân chủng học với các xương sọ người và súc vật, cũng như di truyền học của ông J.Y Chu, qua cổ thư Kinh điển, cổ sử là bộ Sử Ký Tư Mã Thiên, tất cả đã được tổng hợp lại để đưa ra một cái nhìn tổng quát cũng như chi tiết về truyền thuyết họ Hồng Bàng, một truyền thuyết duy nhất nói lên nguồn gốc dân tộc Việt, và được xem là có thể tin được qua sự chứng minh của khoa học, cổ thư và cổ sử nói trên.

Bài viết nầy là một tiếp nối tìm hiểu cội nguồn dân tộc để coi ai là những vị tổ sáng lập ra dân tộc, phát triển cũng như bảo vệ và bành trướng dân tộc Việt, mà chúng ta cần phải nhớ tới ngày Giỗ Tổ để ghi ơn các Ngài.

"VIỆT NAM" NGHĨA LÀ GÌ?

 



1/ Không ít người bây giờ vẫn tưởng "Việt Nam" nghĩa là "nước Nam của người Việt". Hoặc là, qua một số em sinh viên trẻ cho tôi biết ở trường giải thích: "Việt Nam" nghĩa là nước Việt nằm về phương Nam (so với Tàu). Mắc giống gì mà danh xưng một quốc gia lại đi lấy một quốc gia khác làm "hệ qui chiếu"? Coi đi, quốc gia của người Hàn nằm về phía đông nước Tàu, họ đâu giải thích nước họ là ... "Hàn Đông".

Ý nghĩa của hai chữ "Việt Nam" bấy lâu nay thường được diễn giải theo chủ quan của hậu thế, NHƯNG cho dù diễn giải vi diệu/hay ho/cao siêu tới đâu đi nữa thì - xin nhấn mạnh - hãy nhớ rằng tên nước VIỆT NAM là do Nhà Nguyễn chính thức định danh. Thành thử phải tìm hiểu Nhà Nguyễn gọi vậy với ý nghĩa gì (chớ đừng nhồi nhét cách diễn giải của đời sau vào miệng tiền nhân)!

... Hệt như có một làn gió mát mẻ, hết sức khỏe khoắn sau khi tôi may mắn biết được ý nghĩa đích xác của tên nước "VIỆT NAM" khi vua Gia Long định danh.

"Việt" trong quốc danh "Việt Nam" , té ra không phải làm một với "Việt" trong quốc danh "Đại Việt" (mặc dù nhìn vô mặt chữ hệt nhau)!

Nói vào ngay, "Việt" đàng nào cũng có cái hay, nhưng lại không giống nhau.

2/ VIỆT NAM trở thành quốc danh chính thức, lần đầu tiên là vào đời vua Gia Long, năm 1804.

2a) Ban đầu, năm 1802 (Nhâm tuất) vua Gia Long đặt tên nước là "Nam Việt" .

Nhưng nhà Thanh e ngại hai chữ (Nam Việt) lặp lại quốc danh "Nam Việt" mà Triệu Võ Đế (Triệu Đà, năm 204 TCN - năm 137 TCN) đặt ra, bấy giờ lãnh thổ không chỉ có Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đồng bằng sông Hồng cho tới Hà Tĩnh) mà bao trùm luôn Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây).

2b) Để tránh sự e ngại từ nhà Thanh, đầu tháng hai năm Giáp tý (1804) vua Gia Long đã đổi "Nam Việt" thành VIỆT NAM ( ).

Dầu "Nam Việt" hoặc "Việt Nam" cũng đều chung ý nghĩa. Trịnh Hoài Đức (1765-1825), sử gia nổi tiếng sống dưới thời vua Gia Long, có mặt trong đoàn sứ qua Tàu đàm phán với nhà Thanh, cho biết:

"Việt Nam là quốc danh thích hợp để chỉ một lãnh thổ hợp nhứt giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài”, "chúng ta (Nhà Nguyễn) sở hữu đất của Việt Thường trước, và vùng An Nam được thêm vào sau đó".

Hai chữ VIỆT NAM là sự kết hợp giữa VIỆT (THƯỜNG) với (AN) NAM.

3/ Việt Thường là xứ mô?

Theo những sách cổ xưa như "Hậu Hán thư", "Thượng thư đại truyện", "Tư trị thông giám cương mục" thì nước Việt Thường nằm về phía nam Giao Chỉ.

Trong cuốn "Đại Nam Chính biên Liệt truyện sơ tập" thì xác định tên gọi VIỆT THƯỜNG "là tên cổ của xứ Champa"!

Một nguồn khác cho biết cách gọi "Việt Thường" là để chỉ lãnh thổ về phía nam của Giao Chỉ, bao gồm cả Phù Nam (sau này trở thành vùng Thủy Chân Lạp).

Khi Trịnh Hoài Đức viết "chúng ta sở hữu đất của Việt Thường trước", là nhằm ghi nhận các bậc tiền nhân của vua Gia Long (là các Chúa Nguyễn) đã hùng cứ tại Đàng Trong (Champa, Thủy Chân Lạp). Sau đó Nguyễn Phúc (phước) Ánh (vua Gia Long) đã "thêm vào vùng An Nam " là xứ lấy Thăng Long làm kinh đô (tức Đàng Ngoài).

4/ HÃNH DIỆN HAI CHỮ "VIỆT NAM"!

Trước đó, theo dòng lịch sử qua các đời Lý, Trần, Lê... cho dù tự xưng quốc danh "Đại Việt, Đại Nam"... hay đại gì đi nữa. Tuy nhiên, nước Tàu không tôn trọng mà họ cứ gọi xứ sở (lấy Thăng Long làm kinh đô) là "An Nam" miết (và gọi các đời vua Lý, Trần, Hậu Lê đều là "An Nam quốc vương")!

Đến đời Hoàng đế Gia Long, ban đầu triều đình bên Tàu ép vẫn phải dùng quốc danh "An Nam", không chịu "Việt Nam". Nhưng sứ giả của vua Gia Long không đồng ý.

Với quốc danh VIỆT NAM, quí bạn chú ý: Đây là LẦN ĐẦU TIÊN trong suốt lịch sử cả ngàn năm, Tàu đã phải từ bỏ cách gọi truyền kiếp "An Nam" đối với nước Việt chúng ta!

Đời nay chúng ta mỗi khi hãnh diện về hai chữ "Việt Nam" thì nên nhớ tới cái danh xưng đó do Hoàng đế Gia Long đặt ra, thống nhất sơn hà, và sau đó năm 1808 vua phân chia địa giới khu vực. Đừng uống nước mà quên luôn cái nguồn quốc hiệu đó từ đâu, đừng bị nhiễm thói ăn cháo đá bát.

5/ THAY LỜI KẾT

"Việt" (trong "Đại Việt" ) dùng để chỉ Việt tộc.

Còn "Việt" (trong "Việt Nam" ) tuy cùng mặt chữ nhưng được lấy từ trong danh từ kép "Việt Thường" (định danh về địa lý).

Ghép chữ "Việt" (trong "Việt Thường") với "Nam" (trong "An Nam") thành quốc danh VIỆT NAM, là sự ghi nhận đàng hoàng về nguồn gốc của từng vùng lãnh thổ!

Qua đó, vua Gia Long cho thấy niềm hãnh diện trước việc hợp nhứt Đàng Trong với Đàng Ngoài. Lãnh thổ nước ta LẦN ĐẦU TIÊN trải rộng từ bắc đến nam, từ ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nếu theo đường cái quan đi từ Quảng Ninh tới mũi Cà Mau thì thành đường cong chữ S.

Tắt một lời, VIỆT NAM là quốc danh mang ý nghĩa về SỰ HỢP NHỨT LÃNH THỔ.

Ý nghĩa nêu trên của hai chữ VIỆT NAM, thiệt hay hết sức, độc đáo hết sức trong tinh thần đoàn kết các cộng đồng dân tộc ./.

PHAN LÊ (st)

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2023

Xin nói thẳng mấy điều

 Mạc Văn Trang



Xin nói thẳng mấy điều

13:46 | Posted by BVN1 - 26-3-2023

 

Mạc Văn Trang

Tôi thấy giữa Chính quyền với Dân, giữa Dân với nhau có những lầm lẫn nguy hiểm, nên xin nói rõ mấy điều.

1. VỀ CHÍNH QUYỀN

1.1. Chính quyền vẫn nói: Chưa bao giờ đất nước vững mạnh, có được vị thế như ngày nay. Nhưng cứ mở mồm ra là chống “thế lực thù địch”, nhìn đâu cũng thấy “thế lực thù địch”, “phản động”, “chống phá”; “lực lượng 10 ngàn chiến sĩ 47 vừa hồng vừa chuyên tác nghiệp trên không gian mạng 24/24 đấu tranh với các thế lực thù địch”… Dư luận viên từ cấp huyện trở lên, “đông như quân Nguyên”. Chính những người này đem cái tư duy đấu tố từ hồi Cải cách ruộng đất vào xã hội văn minh ngày nay, phá hoại tinh thần khoan dung, hoà hợp dân tộc, phá hoại tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, gây nên không khí nghi kỵ, quy kết, chia rẽ, căng thẳng, hận thù trong xã hội ta.

Vợ chồng tôi đã nhiều lần nói rằng, chỉ có bọn xâm lược, đe dọa, lăm le xâm lược nước ta là thế lực thù địch. Còn tất cả người Việt Nam, dù ở trong hay ngoài nước, có quan điểm khác nhau, dù là đối lập, ở các đảng phái, hội đoàn khác nhau, yêu quê hương đất nước, đều là ĐỒNG BÀO MÌNH, không phải thế lực thù địch. Chỉ ai có hành động bán nước, phá hoại đất nước, lúc đó pháp luật sẽ xử lý, lịch sử sẽ kết tội.

1.2. Chả có thế lực nào chống phá được Đảng, Nhà nước này khi có lực lượng Công an hùng hậu “Chỉ biết còn Đảng còn mình”, “Quân đội trung với Đảng” trước tiên, hơn 5 triệu đảng viên và toàn hệ thống chính trị – cánh tay nối dài của Đảng, lúc nào cũng sẵn sàng: Có lệnh là “đồng loạt ra quân”… Chỉ có mấy người khùng mới đi “chống phá”. Chỉ có quy luật khách quan của lịch sử mới thắng những gì trái quy luật mà thôi. Vì vậy, chính quyền nên điều chỉnh sao cho hợp quy luật, chứ đừng làm những chuyện vô lý nữa. Ví như:

– Tổ chức đám dư luận viên, chuyên chửi bới những người khác ý kiến với chính quyền, nó làm xấu mặt chế độ và gây ô nhiễm không khí văn hoá - đạo đức xã hội.

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2023

Ý KIẾN CỦA TÔI VỀ ChatGPT

 Mạc Văn Trang

 


ChatGPT được đưa ra từ ngày 30 tháng 11 năm 2022 và lập tức thành cơn sốt trên mạng xã hội. Có mấy bạn hỏi ý kiến của tôi về ChatGPT như thế nào, nhất là trong giáo dục? Có bạn còn hỏi con học lớp 5 có nên cho nó vào ChatGPT không?

Thú thực là tự tôi phải tự trải nghiệm, thử với nó đủ trò, cân nhắc, suy nghĩ mới dám sơ bộ có mấy ý kiến như sau để các bạn trao đổi thêm.

I. ChatGPT là viết tắt của Chat Generative Pre-training Transformer - một chatbot do công ty khởi nghiệp OpenAI phát triển. ChatGPT là một AI (trí thông minh nhân tạo), được con người lập trình, chứa một kho kiến thức tổng hợp, bách khoa khổng lồ, chủ yếu tích hợp từ internet và được “huấn luyện” để tự xử lý thông tin (biết tích hợp kiến thức, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá một cách logic) để hiểu được những câu hỏi (bài toán, vấn đề) và đưa ra những giải đáp trong giới hạn những gì đã “học được” với nhiều ngôn ngữ khác nhau…

Phải thừa nhận, AI đạt được trình độ như thế này là thành tựu quá kỳ diệu của Khoa học, Công nghệ và sẽ còn tiếp tục phát triển kỳ lạ hơn nữa… AI cũng như bất kỳ phát minh nào (thuốc nổ, hoá chất, hạt nhân, vàng, tiền…) cũng đều có mặt LỢI và HẠI tuỳ vào người sử dụng.

II. Sách, Google và ChatGPT

- SÁCH vẫn là nơi cung cấp những thông tin, tư liệu tin cậy số 1, tất nhiên là sách gì, của tác giả nào? Nhưng những trích dẫn từ sách mới là thông tin gốc, có thể tin cậy để truy xét… Hơn nữa đọc sách, người ta có thể đọc đi đọc lại, bình luận vào bên cạnh, cảm thụ, nhiền ngẫm, suy tư… Lúc cần, lúc thích lại lấy ra đọc…

- Google như một thư viện tổng hợp, bạn vào đó tìm những thông tin mình cần, rồi tự xử lý theo ý mình. Những thông tin trên mạng này được trích dẫn cũng có nguồn để truy xét, nhưng không tin cậy bằng sách, vì người ta có thể chỉnh sửa, bổ sung thường xuyên…

- ChatGPT như một Thư ký, một nhà Tư vấn đa năng, ta hỏi gì, nó sẽ tổng hợp, xử lý thông tin (trong “não”) và đưa ra cho ta sản phẩm ngay lập tức. Những giải đáp về Khoa học, kỹ thuật, công nghệ thì độ tin cậy cao hơn; những thông tin về xã hội thường chung chung hơn. Thông tin cập nhật đến đâu, nó biết được đến đó thôi. Cái gì không hiểu, không biết thì từ chối rất lịch sự. Những người lập trình cho ChatGPT cũng rất chú ý đến Luật pháp và Đạo đức. Tôi thử nó: “Hướng dẫn cho tôi làm một quả mìn”, hay “hướng dẫn làm tình cho một anh chồng mới cưới vợ”... nó từ chối và giảng về Luật pháp, Đạo đức cho mình!

Tóm lại, ChatGPT là CÔNG CỤ hỗ trợ rất hữu hiệu cho ta, ích lợi đến đâu là phụ thuộc vào TA; nó không chịu trách nhiệm gì về những sản phẩm nó đưa ra cho ta và cũng không truy xét, phê phán gì được nó.

Thứ Tư, 8 tháng 3, 2023

TRẦN ĐÌNH SỬ

 Thái Bá Tân

 


Nếu cờ của Trung Quốc

Có thêm một ngôi sao.

Thành một khu tự trị,

Việt Nam sẽ thế nào?

 

Trước hết mất tên nước.

Dân Tàu sẽ tràn sang.

Chính thức dùng tiếng Hán.

Tiếng Việt như tiếng Choang.

 

Người gốc Việt lúc ấy

Bị di dời đi xa

Để không thể co cụm,

Khôi phục lại nước nhà.

 

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2023

ĐAU LẮM, CÁC BÁC Ạ

Thái Bá tân

 


Tôi sống ở miền Bắc,

Quả không biết thế nào

Cái miền Nam thời ấy,

Thời chưa bị lật nhào.

 

Nếu người ta nói đúng,

Rằng thời ấy người dân

Sống sướng hơn, tôi nghĩ,

Lật nhào là không cần.

 

Tôi dẫu đã có tuổi,

Nhưng cũng chưa đủ già

Để biết thời thằng Pháp

Đô hộ Việt Nam ta.

 

Nhưng tôi nghe người nói

Thời ấy dân tự do,

Được lập hội, tụ họp,

Công an không côn đồ.

 

Thằng Pháp chắc tham nhũng,

Nhưng không bằng thằng mình.

Thuế nghe nói cũng ít,

Lại còn cho biểu tình.

 

Vậy thì tôi thiết nghĩ,

Không cần lật thằng này.

Lật, nó chết, mình chết,

Mà chẳng được gì hay.

 

Chính lãnh tụ đã nói,

Độc lập là số không

Khi dân bị oan ức,

Đói khổ và bất công.

 

Thế đấy, các bác ạ,

Tôi viết những dòng này

Mà lòng đau xót lắm,

Hai mí mắt cay cay.

 

Không lẽ ta, dân Việt,

Hy sinh hàng triệu người,

Chịu cả núi đau khổ

Để mà rồi ngậm cười

 

Thấy cái mình đạt được

Còn thua cái ngày xưa

Mà ta hăng hái lật.

Hay là ta bị lừa?

 

Hà Nội, 18. 7. 2012

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2022

Linh nghiệm

Trần Huy Quang



     Đó là tên một bài trên báo Văn nghệ năm 1992. Báo vừa ra được vài giờ thì được lệnh triệt để thu hồi để đốt hết. Ban tuyên giáo của đảng sôi sục trong lúc Tòa báo Văn nghệ như có đại tang trong nhiều ngày. Tác giả bài báo bị đuổi việc. Cán bộ, nhân dân khắp nơi bàn tán xôn xao và lùng sục xem ai đã mua được, cất giữ được tờ báo để chuyền tay nhau đọc, các hiệu phô tô bí mật nhân bản.

        H…INH là con trai thứ ba trong một gia đình nông dân không nghèo nhưng cũng không giàu có gì lắm. Cha anh ta có đỗ đạt, đã từng làm quan, nhưng tính khí thất thường, lòng đầy ham hố nên quan trên không mặn mà gì nên đã bỏ quan, khi đi dạy ở chốn kinh kỳ, khi ngồi bốc thuốc ở vùng sơn cước.

Hinh thừa hưởng ở dòng họ và khí chất của vùng chôn rau cắt rốn cái nết cơ bản cần cho kẻ có hoài bão tham chính là tính đa mưu túc kế, lòng dạ thật không bao giờ lộ ra mặt, bạn bè cùng lứa không ai dám kết thân làm bằng hữu. Hinh sáng dạ, lại có chí, học đâu biết đó, hai mươi tuổi làm thơ chữ Hán, đọc Rút-xô, Mông-tét-ski-ơ … bằng nguyên bản nhưng Hinh chán học, chỉ nhăm nhăm một dạ xuất ngoại. Đạo học không có đường tắt, mà lập thân bằng con đường học vấn thì mù mịt, xa vời quá. Bằng văn chương thì chỉ khi thế cùng lực tận, bất đắc dĩ mà thôi.

Hàng ngày Hinh sống như người nuốt phải quả chùy gai vào bụng, buốt nhói, nhăn nhó, bồn chồn, vừa ngồi đã đứng lên, mới ngủ đã vùng dậy, trán nhăn tối, mắt xa xăm. Như đang phải lòng một tiểu thư khuê các …

Nhưng Hinh đâu phải là người dại dột, không bao giờ để phí chí khí, sức lực vào chuyện đàn bà. Vớ vẩn. Chiếm mười trái tim đàn bà đâu có khó nhưng một trái tim nhân loại thì phải vượt trùng dương. Hinh ngước cái nhìn mong đợi lên bầu trời, hoài vọng bóng dáng một con tàu, tìm kiếm một phép thần thông, mong đợi một dấu vết của cõi Thiện hoặc hơi hướng của miền Cực lạc để đưa về cho chúng sinh. Tháng ngày như sợi chỉ căng mà lòng khao khát làm trai hải hồ, khắc khoải mong một phút được quỳ dưới chân bậc Chí Thánh và nói : “Ơn Người, Người là nguồn ánh sáng dẫn dắt chúng con … Lũ chúng sinh con khao khát được gặp Người …” Thế rồi như sự linh nghiệm của lời nguyện cầu, một đêm giông tố bão bùng, đất trời như trong cơn đau sinh nở, Hinh đã lên chín tầng Thánh địa để được gặp đấng Chí Linh.

Bắt đầu là một ngọn nến, ánh lửa dịu ấm tỏa một quầng sáng hình nón. Vầng sáng ấy tỏa hào quang, tia hào quang không thẳng mà có hình gấp khúc. Cuối cùng ở trung tâm vầng sáng ấy hiện ra khuôn mặt kiều diễm của một cô gái tóc vàng.

– Kính thưa … Hinh bàng hoàng thốt lên.

– Không phải ! Cô gái mỉm cười độ lượng. Tôi chỉ là sứ giả của đấng Lập Đạo. Anh có lời thỉnh cầu gì gấp lắm không ? Người đang bận, việc hành đạo mới chỉ ở bước khởi đầu …

– Kính thưa, tôi là người của xứ sở Nhọc nhằn tăm tối …

– Thôi anh không cần phải nói, chàng trai ạ, người xứ Nhọc nhằn có khát khao ánh sáng thì việc hành đạo mới càng được dễ dàng. Đây anh cầm lấy, theo đạo thư này, anh sẽ tìm được chân lý.

Vị sứ giả trao cho Hinh đạo thư quý giá ấy rồi nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi chỉ còn như một cái chấm chính giữa vầng hào quang rồi biến mất giữa bao la. Hai tay đỡ cuốn sách trước trán, Hinh vẫn quỳ và thành kính đặt lên đó một cái hôn, rồi anh run run dở ra đọc.

“Hãy đi về phía Nam theo con đường một bên là cây và một bên là nước, cuối con đường có quán bia hơi và thịt chó, đừng vào chốn đam mê ấy và đi thật chậm. Dọc đường sẽ có người hỏi : “Có đi không ?” thì đừng đi. Đó cũng là người cần lao chứ không phải ma quỷ cám dỗ, nhưng phải đành từ chối. Đi tiếp sẽ gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt đã là vườn hoa nhỏ. Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất để “tìm cái này”. Cứ thế … chỉ cần một lúc sau, anh sẽ có được thiên hạ …”

Hinh ấp cuốn đạo thư vào ngực tức tưởi. “Trời ơi, bảo bối, bảo bối …” Hinh sung sướng hét toáng lên. Tiếng anh vang rất to trong đêm và lúc ấy Hinh mới biết mình vừa qua một giấc mơ. Nhưng trời ơi, tại sao những điều anh nung nấu trong tâm can bấy lâu nay lại được giải đáp trong mơ. Anh sung sướng và cảm động đến mức nước mắt giàn giụa. Ôi chúng sinh nhọc nhằn và tăm tối của ta, bảo bối này sẽ soi sáng đường chúng ta đi …

Sáng hôm sau, Hinh thành kính chuẩn bị lên đường. Quần áo tươm tất, mũ miện đàng hoàng. Trước nhà anh có một đại lộ chính Nam, có lẽ đúng là con đường này nên anh dần bước ra đi. Một bên cây và một bên nước, hay một bên rừng và một bên biển ? Anh cứ đi, qua vài đoạn phố nữa thì anh thấy mình đi đúng, con đường men theo cái hồ. Và giữa phố có hàng bia hơi thịt chó mà vài lần anh cũng đã bị cuốn vào đó. Ôi, sự linh nghiệm không sai một dấu phẩy. Đường phố trong veo, lui cui dăm chiếc xe đạp chở kẹo bánh, than tổ ong đi bỏ mối cho các hàng nước vỉa hè, lọc cọc đôi chiếc xích lô cà tàng đi tìm khách. Vài cô điếm vật vờ.

– Có đi không ? Một cô gái điếm rủ rê. Hinh nhớ đến giấc mơ mà thấy lạnh xương sống, trong mơ cũng ba chữ ấy. Đến cuối phố, Hinh thấy một ki-ốt sách báo thật, chủ quán vừa mở cửa. Tại sao có sự kỳ diệu thế này, khi tỉnh anh nào có biết chỗ này có một quán sách ? Đi tiếp, gặp một ki-ốt sách báo nên rẽ trái, trước mặt đã là vườn hoa nhỏ. Hinh liền rẽ trái, đi một đoạn qua các cửa hàng bách hóa đã thấy vườn hoa Mùa Xuân. Kẻ hành đạo không chần chừ đắn đo, đi tới giữa vườn hoa, lòng như ngây ngất hơi men, một nửa muốn bay lên, một nửa muốn trì xuống. Mắt Hinh hoa lên, đâu Thiên Thần, đâu Địa Thánh, không biết con đang đứng giữa Địa đàng hay mặt đất. Rồi anh chợt tỉnh lại … “Tìm cái này” là tìm cái gì, anh không hiểu nhưng không dám nghi ngờ lời vàng ngọc của đấng Tiên tri. Vườn hoa nằm cạnh đại lộ, lúc này đang vắng hoe, chỉ có mấy ông già tập thể dục muộn, dăm chàng thanh niên đá bóng và một tốp học sinh cấp ba sắp đi qua. Bây giờ anh phải khom người xuống, đi chậm từng bước một, mắt nhìn xuống mặt đất … Hinh vừa cúi lom khom chăm chú tìm kiếm vừa lẩm nhẩm đọc. Anh như bị thôi miên, không biết mình đang tìm cái gì, nhưng anh cứ trung thành với lời chỉ giáo, người cúi lom khom, mắt dán xuống đất và từng bước một chậm rãi.

Những người qua đường lấy làm lạ …

Bắt đầu là một nhóm học sinh cấp ba, mấy đứa con trai vốn hiếu kỳ, đi đến và tự hỏi, không biết ông kia tìm cái gì nhỉ ? Chúng không thể tự giải đáp được.

– Anh ơi, anh tìm cái gì đấy ?

Hinh mải mê không hề nhìn lên, chỉ buột miệng trả lời :

– Tìm cái này.

Đối với chúng, câu trả lời ấy, làm ngứa ngáy chân tay. Nhất định cha này mất nhẫn, dây chuyền hay hạt xoàn gì đó thôi, chúng mình mà vớ được thì hay lắm.

Thế là cả bọn, cặp sách dồn lại một đống, nhảy vào cuộc tìm kiếm. Khi cả một đám người bò ra sục sạo tìm kiếm thì sự lạ tăng lên hàng chục lần. Người đi qua vườn hoa không bao giờ hết, dân lang thang thất nghiệp, dân nhà quê bỏ ra thành phố kiếm cơm, đang đói rách hy vọng vớ được một chút may mắn, những người này đi đến và không thể không hỏi :

– Tìm cái gì đấy ?

Lần này thì tụi trẻ con đã mau miệng trả lời :

– Tìm cái này.

Câu này đối với người lớn làm ngứa ngáy đầu óc. Thế là họ bỏ cả gồng gánh, xe cộ, nhảy vào quảng trường. Hỏi tiếp đến …

Bây giờ là dân xích lô, ba gác, dân ăn xin, trẻ mồ côi bán báo, dăm cô điếm, đám bụi đời móc túi nghe tin cũng tìm đến.

– Tìm cái gì đấy ?

– Tìm cái này.

– Mả mẹ chúng nó, giấu như mèo giấu cứt. Nhất định là hạt xoàn, ru bi, có lẽ tối qua, tụi đào đá đỏ qua đây đánh nhau đổ ra bì đá đỏ không chừng. Mẹ chúng nó, ông mà biết trước, ông rào lại, ông đuổi tất. Ê, ông kia được một viên rồi hả, bắt nộp phạt chúng mày …

Cứ thế …

Và số người hy vọng có một chút no ấm bò lê trên vườn hoa để tìm vật báu, đến lúc này đã đông như một đàn kiến.

Hinh chợt nhận ra tiếng ồn của đám đông và anh ngạc nhiên đứng lên nhìn họ, hóa ra thiên hạ đã bu lại xung quanh mình. Một lúc sau anh sẽ có được thiên hạ … Hinh sung sướng đến rơm rớm nước mắt và mãn nguyện ra về. Cái đám đông ấy cứ như dòng nước trong lòng sông, trôi đi chứ không cạn. Người đến trước, thất vọng ra về trước, người đến sau, thất vọng ra về sau. “Tìm cái này” là cái gì thì không ai biết nhưng cứ hy vọng có chút no ấm mờ mờ phía trước cũng đã hấp dẫn để họ trở thành một dòng nước.

Trưa.

Rồi chiều.

Và … vẫn còn đám đông xúm xít giữa vườn hoa Mùa Xuân.

Trần Huy Quang – Báo Văn Nghệ ngày 4-7-1992.