Thứ Hai, 19 tháng 6, 2023

Cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung (Kỳ 4)

Nguyễn Văn Huy

Tiến sĩ Dân tộc học, Giáo sư phụ trách Khoa Các Dân tộc Ðông Nam Á tại Ðại học Paris

IV. Người Thượng vẫn trên đường tìm chỗ đứng

Năm 1969, những đòi hỏi chính đáng của nhóm FULRO Thượng ôn hòa đều được thỏa mãn, người Thượng được quyền tham gia trực tiếp vào các sinh hoạt chính trị và đã cùng với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa xây dựng và bảo vệ miền Nam. Giai đoạn từ giữa tháng 10-1969 đến đầu tháng 3-1975 có lẽ là thời kỳ vàng son nhất của cộng đồng người Thượng từ khi được biết đến, nhưng thời gian đã quá ngắn ngủi để những dự án hội nhập người Thượng vào cộng đồng Việt Nam trở thành hiện thực. Hơn 200.000 trên tổng số một triệu người Thượng đã chết trong cuộc chiến. Sau ngày 30-4-1975, dưới chế độ cộng sản, phong trào FULRO, được dịp hồi sinh, đã tổ chức nhiều cuộc đánh phá chống lại chính quyền cộng sản và bị trấn áp trong bạo lực. Cho đến nay người Thượng vẫn còn trên đường đi tìm chỗ đứng. 

Chính sách Thượng vụ thời Ðệ nhị Cộng Hòa 

Tại miền Nam, sau 1969, nhiều định chế chính trị và xã hội đã được thành lập để hội nhập người Thượng vào cộng đồng dân tộc Việt Nam. 

Dưới áp lực của Hoa Kỳ, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chấp thuận gần như toàn bộ những nguyện vọng chính đáng của người Thượng qua hai đại hội sắc tộc họp tại Pleiku từ 15 đến 17-10-1964 và từ 25 đến 26-6-1967. Một số đòi hỏi của nhóm FULRO Thượng – trừ các quyền có lãnh thổ và quân đội riêng, quyền tiếp đón các phái đoàn ngoại giao quốc tế – cũng được thỏa mãn. Những cựu thành viên của phong trào FULRO (gần 6.000 người) đã rời Kampuchea về lại Việt Nam sinh hoạt bình thường, 23 cán bộ cao cấp được hồi ngạch và làm việc ngay tại địa phương nơi cư ngụ. 

Ðể tranh thủ sự hợp tác của những nhân sĩ Thượng ôn hòa trong sinh hoạt chính trị (dân cử hay bổ nhiệm), chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thành lập Phong trào Ðoàn kết các Sắc tộc Cao Nguyên Việt Nam, trụ sở đặt tại Buôn Alêa. Lễ ra mắt được cử hành trọng thể tại Buôn Ma Thuột ngày 22-4-1969. Ban chấp hành phong trào, đa số là người Rhadé, gồm có một chủ tịch danh dự (tổng thống Nguyễn Văn Thiệu), một chủ tịch chính thức (ông Y Bling, buôn Krong Pang), một đệ nhất phó chủ tịch (ông Y Dhắt Niê Kdam), một đệ nhị phó chủ tịch (ông Ya Dúk, người Kaho), một đệ tam phó chủ tịch (bà Hbi, buôn Ya), một tổng thư ký (ông Y Kuốt Ayun), một thủ quỹ (ông Y Buăn). Ban cố vấn gồm có các ông Paul Nưr (người Bahnar), Y Chôn Mlô Duôn Du và Y Bliêng Hmok. Ban chấp hành các tỉnh do chính phủ chỉ định. Tại Ðắc Lắc, các ông Y Chôn Mlô Duôn Du làm chủ tịch tỉnh bộ phong trào và Kpa Koi (người Djarai) làm phó chủ tịch. Phong trào Ðoàn Kết, trên thực tế, là cơ quan tuyển chọn người để đưa vào chính quyền. Việc làm đầu tiên là đề cử người vào Hội đồng Sắc tộc. 

Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2023

Cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung (Kỳ 3)

 Nguyễn Văn Huy

Tiến sĩ Dân tộc học, Giáo sư phụ trách Khoa Các Dân tộc Ðông Nam Á tại Ðại học Paris


 

III. Sự hội nhập khó khăn của người Thượng vào cộng đồng quốc gia Việt Nam

Hiệp định Genève 1954 mở đầu một giai đoạn hợp tác mới giữa người Thượng và người Kinh trên cao nguyên. Nhưng sự hợp tác này đã diễn ra không tốt đẹp như mong muốn, người Kinh chưa quen sinh hoạt bình đẳng với người Thượng và ngược lại. Bất hạnh lớn của người Thượng trong giai đoạn 1954-1975 là nơi sinh trú của họ có một tầm quan trọng chiến lược trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai, bất cứ phe tranh chấp nào cũng đều muốn làm chủ địa bàn chiến lược này và lôi kéo cộng đồng người Thượng theo họ chống lại phe kia. Tùy theo những lượng định thời cuộc khác nhau, cộng đồng người Thượng đã có những phản ứng khác nhau để rồi dẫn đến cùng một hậu quả: người Thượng không có tiếng nói trên chính quê hương của họ. 

Tây Nguyên những ngày đầu dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa 

Cuối tháng 7-1954, thủ tướng Ngô Ðình Diệm đề nghị quốc trưởng Bảo Ðại hủy bỏ quy chế Hoàng Triều Cương Thổ và được chấp thuận ngày 10-8-1954. Năm sau, ngày 11-3-1955, Bảo Ðại phê chuẩn Dụ số 21 sát nhập Hoàng Triều Cương Thổ vào lãnh thổ Việt Nam và đặt khu vực này dưới quyền quản trị của Việt Nam Cộng Hòa (trong thực tế chỉ Xứ Thượng miền Nam mà thôi, Xứ Thượng miền Bắc thuộc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa). Cùng ngày, Ngô Ðình Diệm ban hành Sắc Lệnh số 61 thành lập Tòa Ðại biểu Chính phủ thay thế Tòa Khâm sứ, bổ nhiệm ông Vĩnh Dự làm đại biểu chính phủ (tỉnh trưởng) tại Buôn Ma Thuột và ông Tôn Thất Hối làm đại biểu tại Ðà Lạt. Trong cùng thời gian, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu Pháp giao lại những cơ sở hành chánh và quân sự do họ nắm giữ, đồng thời chuẩn bị kế hoạch đưa những người di cư từ miền Bắc lên cao nguyên lập nghiệp. 

Ngày 10-8-1955 Pháp rút quân khỏi cao nguyên, chấm dứt chính thức chế độ Hoàng Triều Cương Thổ. Thành phần trí thức và sĩ quan Thượng tin rằng sau khi tiếp thu cao nguyên họ sẽ được chính phủ Ngô Ðình Diệm trọng dụng. Nhưng thực tế đã không xảy ra như vậy, tất cả những chức vụ chỉ huy đều do những viên chức gốc Kinh từ đồng bằng lên nắm giữ. Những đơn vị quân đội Thượng (Sư đoàn 4 bộ binh, 7 tiểu đoàn cơ động cùng những đơn vị tác chiến khác, khoảng 10.000 người) đặt dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Những cơ quan hành chánh, giáo dục và y tế đặt dưới quyền quản trị của Tòa Ðại biểu Chính phủ. 

Người Thượng chưa được chuẩn bị để sống chung với người Kinh. Cao nguyên miền Nam vào năm 1955 có khoảng 700.000 dân Thượng, đông hơn dân số Kinh vào thời điểm đó, nhưng người Thượng chỉ đảm nhiệm những vai trò thứ yếu hay không có vai trò nào cả. Tại Darlac và Pleiku, các tỉnh trưởng còn buộc người Thượng phải ăn mặc chỉnh tề (đa số dân Thượng trong giai đoạn này vẫn còn đóng khố) khi vào những cơ quan công quyền trong thành phố. Thêm vào đó, thành phần di cư người Kinh tỏ ra khinh miệt người Thượng tại những vùng cộng cư. Giọt nước đã làm tràn ly là chính sách đồng hóa (diễn văn ngày 12-6-1955) và cải cách điền địa (Dụ số 57 ngày 22-10-1956) của thủ tướng Ngô Ðình Diệm: phân biệt đối xử, bãi bỏ các tòa án phong tục, cấm dạy tiếng thổ ngữ và phủ nhận quyền sở hữu đất đai (polan) của người Thượng. Một phong trào chống đối ngấm ngầm hình thành, một số trí thức, cán bộ và binh sĩ Thượng bất mãn bỏ về làng, một số khác vẫn ở lại cơ quan nhưng không làm việc. Cán bộ cộng sản nhân cơ hội trà trộn vào một số buôn làng tuyên truyền và kích động dân Thượng chống lại chính quyền miền Nam. 

Tây Nguyên có tầm quan trọng đặc biệt đối với các chiến lược gia Hoa Kỳ, đó là cửa khẩu ngăn chặn sự xâm nhập của quân đội cộng sản miền Bắc vào miền Nam. Sự hiện diện của du kích quân cộng sản do đó gây nhiều lo âu cho các cố vấn Mỹ lúc đó đang huấn luyện quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1956, nhiều phái đoàn MAAG (The US Military Assistance Advisory Group) được gởi lên cao nguyên quan sát tình hình và xây dựng cơ sở huấn luyện binh lính Thượng chống du kích. Tổng thống Ngô Ðình Diệm (đắc cử ngày 24-10-1956) cũng cho thành lập Văn phòng Cố vấn Thượng vụ để góp ý về những vấn đề liên quan đến cao nguyên miền Thượng. 

Phong trào BAJARAKA 

Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2023

Cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung (Kỳ 2)

 Nguyễn Văn Huy

Tiến sĩ Dân tộc học, Giáo sư phụ trách Khoa Các Dân tộc Ðông Nam Á tại Ðại học Paris



 II. Người Thượng và những phong trào phản kháng dưới thời Pháp thuộc

Từ giữa thế kỷ 16 người Việt bắt đầu tiếp xúc giáo lý đạo Công giáo, số người theo đạo càng ngày càng đông, nhiều họ đạo lớn được thành lập. Nhưng từ thế kỷ 19 trở về sau, đạo Công giáo bị bách hại, phong trào tìm đường lên cao nguyên lánh nạn trở nên mạnh mẽ, cộng đồng người Thượng qua đó đã được biết đến. 

Sự xâm nhập của người Pháp, và của người Kinh sau này, vào không gian sinh tồn của người Thượng là tiền đề của những phong trào hợp tác hay phản kháng của người Thượng. 

Quan hệ với các giáo sĩ Pháp 

Tại Việt Nam, người Thượng đã được các giáo sĩ phương Tây biết đến từ thế kỷ 17. Năm 1621, giáo sĩ Borri gọi chung những nhóm dân cư phía Bắc Nam Phần là Kemoy (Kẻ Mọi). Giáo sĩ Marini Romain đề cập tới các vua Hỏa Xá và Thủy Xá (người Djarai) từ 1646. Năm 1651, giáo sĩ Alexandre de Rhodes xác nhận xứ Rumoi (Rú Mọi) nằm ở giữa Lào và Annam. Trong thế kỷ 18, giáo sĩ João de Loureiro xuất bản cuốn De nigris Moi et Champanensibus (Người Mọi đen và Champa); giáo sĩ De La Bissachère lội ngược sông Mékong lên phía Bắc và khám phá các nhóm Thượng sinh sống dọc hai bờ sông. Năm 1765, giáo sĩ Pigues lên đến thượng nguồn sông Prek Chlong (Kampuchea) và tiếp xúc với các nhóm Stieng, Proue, Queraie, Penong… rồi trở về không. Năm 1770, giáo sĩ Juguet vào Prek Chlong giảng đạo cho người Stieng rồi chết vì kiệt sức (1774). Tháng 5-1775, giáo sĩ Faulet thành lập họ đạo Chlong rồi cũng chết vì bệnh sốt rét rừng (1776). Sang thế kỷ 19, những hiểu biết về Tây Nguyên rõ ràng dần; khi thiết lập Ðại Quốc Họa Ðồ năm 1838, giáo sĩ Taberd dùng chữ mọi để chỉ những nhóm dân sinh sống trên cao nguyên Trường Sơn. Tuy vậy, những cố gắng này không có tiếp nối. 

Phải chờ đến thời Tự Ðức, việc cấm đạo trở nên dữ dội ở đồng bằng, cố gắng tìm đường lên cao nguyên mới được hồi sinh. Tại Tây Nam Phần, năm 1857, giám mục Lefèbvre cho người vào nơi sinh trú của người Stieng, phía Tây Bắc Gia Ðịnh, tìm nơi trú ẩn và năm 1861, giáo sĩ Azémar thành lập được họ đạo Brơlam (Bình Long) nhưng bị Pou Kombo (một lãnh tụ Khmer) đốt năm 1867. Giáo sĩ Vuillaume, khi trốn các cuộc lùng bắt đạo tại Phan Rang năm 1865, đã chạy lên cao nguyên Di Linh sinh sống với người Mạ và Sré. 

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2023

Cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung (Kỳ 1)

 Nguyễn Văn Huy



Tìm hiểu lịch sử những cộng đồng dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam là một bổ túc cần thiết cho mọi dự án xây dựng Việt Nam tương lai. Bài viết tóm lược sự hình thành cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung, những phong trào phản kháng của người Thượng trong thời Pháp thuộc và dưới các chế độ chính trị của Việt Nam, để hiểu và nâng đỡ những đồng bào đang chia sẻ mảnh đất Việt Nam chung.

 I. Sự hình thành cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung

Thượng là tên gọi chung những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung Việt Nam. Dân số người Thượng hiện nay trên 1,6 triệu người (tương đương với 1,9% dân số toàn quốc), được chia thành 19 nhóm khác nhau, đông nhất là các nhóm Bahnar, Sedang, Hré, Mnong, Stieng thuộc ngữ hệ Môn Khmer (Nam Á) và Djarai, Rhadé, Raglai thuộc ngữ hệ Malayo Polynésien (Nam Ðảo). Ðịa bàn cư trú của người Thượng có hình giọt nước, rộng trên 60.000 cây số vuông, từ vùng rừng núi phía Tây các tỉnh đồng bằng duyên hải miền Trung (bắt đầu từ Quảng Bình xuống Ðồng Nai) đến tận biên giới Lào và Kampuchea với các tỉnh Kontum, Gia Lai, Ðắc Lắc, Lâm Ðồng (gọi chung là Tây Nguyên) và chấm dứt trên những sườn đồi phía Nam dãy Trường Sơn trong các tỉnh Ðồng Nai và Sông Bé. Mỗi nhóm Thượng sinh trú trong một địa bàn riêng biệt với những ngôn ngữ, phong tục, tập quán riêng. Mật độ dân số trung bình khoảng 30 người trên một cây số vuông; tỷ lệ tăng trưởng dân số trung bình là 2% một năm. Ngày nay người Thượng trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ: 40% dân số trên Tây Nguyên. 

Sự hội nhập của người Thượng vào cộng đồng dân tộc Việt Nam còn rất mới, chưa tới 50 năm (từ 1954 đến nay), do đó còn rất nhiều điều để khám phá. 

Các tên gọi về người Thượng 

Triều đình và người Việt Nam xưa gọi chung những sắc dân sinh sống trong vùng rừng núi, chưa thấm nhuần văn minh đồng bằng, là Man di, Thổ dân hay Liêu thuộc; khi chống lại trung ương thì bị gọi là rợ, loạn. Vào giữa thế kỷ 19, lần đầu tiên tiếp xúc với những sắc dân sinh sống trên cao nguyên Trường Sơn, người Pháp gọi chung tất cả là Mọi. 

Theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái, danh xưng Mọi xuất hiện từ thế kỷ 18 khi Nguyễn Huệ mang quân ra Bắc phò Lê diệt Trịnh. Triều thần nhà Lê (Trương Tuân và Dương Trọng Tế) thời đó gọi quân Tây Sơn là quân Mọi. Sở dĩ có tên gọi này vì quân Tây Sơn đa số là người Thượng (đảm trách phần nhiệm vụ tải người và vật dụng), kẻ nào cũng lưng đóng khố, tay cầm đòn ống, mình trần trùng trục. Chưởng Tiến, một lục lâm hảo hán thời đó, mắng quân Tây Sơn là lũ Hồng Mao, Mọi lông đỏ vì trên đầu mỗi binh sĩ đều vấn vải đỏ và giắt lông chim (một phong tục của người Bahnar khi lâm trận). 

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

Tự do báo chí : Việt Nam tụt 4 hạng trong nhóm cuối bảng, chỉ trước Trung Quốc và Bắc Triều Tiên

Chi Phương

Nhân Ngày Tự do Báo chí 03/05/2023, tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RFS) công bố bảng xếp hạng hàng năm về điều kiện hành nghề báo của 180 nước trên thế giới. Việt Nam đứng thứ 178, chỉ trước Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

Theo RFS, ở châu Á, hoạt động báo chí bị cản trở nhiều nhất tại các nước độc đảng. 

  


( H1 : Bản đồ xếp hạng tự do báo chí tại 180 quốc gia trên thế giới, do tổ chức Phóng viên Không Biên giới thực hiện © Phóng viên không biên giới (Reporters Sans Frontiers) )

Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2023

Tranh cãi thiên niên kỷ về sắc đẹp của Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra

Ngoại hình của vị Pharaoh Ai Cập cuối cùng từ lâu đã là một đề tài thu hút. Và vì Nữ hoàng sông Nile được miêu tả theo nhiều cách trong hàng thiên niên kỷ qua, khuôn mặt thực sự của bà phần lớn vẫn là bí ẩn cho đến ngày nay.

Lịch sử đã để lại rất ít manh mối. Nhưng điều đó không ngăn được các nhà sử học và các nhà sản xuất phim ở Hollywood chạy đua với những suy đoán về khuôn mặt thật của Cleopatra. Liệu bà có quyến rũ như Elizabeth Taylor trong bộ phim "Cleopatra" năm 1963, hay chỉ là một phụ nữ giản dị với “sự duyên dáng không thể cưỡng lại” như nhà sử học Hy Lạp Plutarch đã từng tuyên bố?

Ngoài ngoại hình đẹp của Cleopatra, một chủ đề khác cũng truyền cảm hứng cho các cuộc tranh luận, đặc biệt trong những năm gần đây, là chủng tộc của bà. Mặc dù nữ hoàng cổ đại thường được miêu tả là người da trắng, một số người suy đoán rằng bà là người da đen, hoặc có thể một chủng tộc hoàn toàn khác.

Trong 2.000 năm kể từ khi Cleopatra qua đời, các nhà sử học đã thu

Cleopatra sinh ra ở Ai Cập vào khoảng năm 70 trước Công nguyên. Nhưng trái với suy nghĩ của nhiều người, nữ hoàng có lẽ không phải là người Ai Cập. Trên thực tế, bà thuộc dòng dõi những nhà cai trị hậu duệ của Ptolemy I. Là một vị tướng và nhà sử học, Ptolemy đến Ai Cập cùng với Alexander Đại đế. Tại đây, Ptolemy tự lên ngôi vua sau cái chết của Alexander Đại đế vào năm 323 trước Công nguyên. Do Ptolemy đã chiến thắng nhiều người Ai Cập bản địa vào thời điểm đó, về cơ bản họ chấp nhận các hậu duệ của ông như là dòng dõi mở rộng của các Pharaoh.

Nhưng Ptolemy đến từ Hy Lạp, và gia đình ông dường như tránh kết hôn với người Ai Cập bản địa. Thay vào đó, họ thường kết hôn với nhau. Đây là một thực tế quan trọng, bởi thay vì câu hỏi “Cleopatra trông như thế nào”, người ta sẽ tò mò hơn: "Cleopatra có phải là người da đen không?"

Rất khó để trả lời một cách chắc chắn. Bởi dù nguồn gốc Hy Lạp của Cleopatra về phía cha bà được ghi chép rõ ràng, nhưng nguồn gốc người mẹ không rõ danh tính của bà thì vẫn chưa thể xác định. 

H1 . Một bức tượng bán thân được cho là tạc Nữ hoàng Cleopatra, ra đời khoảng năm 40 đến 30 trước Công nguyên. Ảnh: Wikimedia Commons

Cuộc tranh cãi chủng tộc

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023

Họ Hồng Bàng và những vị thuỷ tổ của dân tộc Việt


Vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt mãi đến ngày hôm nay vẫn còn rất mù mờ, vì có rất ít nghiên cứu sâu xa về nguồn gốc dân tộc. Những bộ sử giáo khoa chỉ tạo thêm màu không khí buồn thảm, mặc cảm, cho những ai muốn đọc lại hay tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt. Các bộ sử Việt do các học giả người Việt phần lớn ghi lại khởi điểm từ thời Triệu Ðà đánh An Dương Vương, thời gian sau khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa, được xem như là thời điểm quá muộn màng đối với lịch sử về nguồn gốc dân tộc Việt.

( 1 )


Nếu bạn muốn hiểu nguồn gốc dân tộc Việt, điều kiện tiên quyết bắt buộc là phải hiểu nguồn gốc dân tại vùng Thái Bình Dương cùng những biến chuyển thay đổi về khí hậu, địa lý tại vùng nầy. Ðây là phần chuyển nhập trước khi vào truyền thuyết họ Hồng Bàng. Nếu không hiểu phần chuyển nhập nầy, thì khó mà thông hiểu truyền thuyết họ Hồng Bàng.

Phần chuyển nhập nầy cho chúng ta hiểu sự di chuyển của người Ðông-Nam-Á trong đó bao gồm tiền nhân người Việt vào thời trước khi hình thành dân tộc, đã từ vùng đất liền Ðông-Nam-Á đi qua Phi-Luật-Tân và xuống tận Úc Châu, đồng thời đi lên tận phía Bắc Trung Hoa đến Nhật Bản. Những điều ghi trên đã được tôi trình bày và chứng minh trong một số bài viết, qua khảo cổ như chứng minh xương súc vật của vùng Ðông-Nam-Á đã lên đến tận phía Bắc Trung Hoa mà các nhà khảo cổ đã tìm được chung với các loại sọ người Công Vọng Linh 公望玲( Kung-wang-ling ) nằm không xa người Lam Ðiền 藍田人(Lantian man) ở tỉnh Thiểm Tây và người Bắc Kinh (Peking man) ở tỉnh Hà Bắc của Trung Hoa.

Ðồng thời tôi cũng chứng minh qua những nhận định của các nhà khảo cổ Trung Hoa như ông Hoàng Vạn Ba 黃萬波 (Huang Wanbo) thuộc viện cổ sinh vật học của viện khoa học Bắc Kinh, nhà khảo cổ Bình Thái Hạo (Ping Ti-Ho) đều cho biết rằng người Lam Ðiền và người Bắc Kinh là những người từ phía Nam đi lên, cũng như những sọ tìm được tại nền văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao) là loại sọ từ Ðông-Nam-Á tức là từ phía Việt-Nam đi lên. Ngoài ra tôi cũng cho thấy ông J.Y. Chu với dẫn chứng về di truyền học mang tên “Genetic Relationships of Population in China” đăng trong tờ Tạp Chí Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia Hoa Kỳ, đã cho biết rằng, nguồn gốc của người Trung Hoa nói riêng và người Ðông Á (bao gồm người Nhật, Triều Tiên, Trung Hoa) nói chung là do giống người từ Ðông-Nam-Á đi lên.

Ngoài phần khảo cổ và di truyền học, tôi cũng dẫn chứng qua “dân tộc học” dựa vào những truyền thuyết của các giống dân tại vùng Thái Bình Dương như truyền thuyết của bộ lạc ở vùng Banaue của Phi-Luật-Tân cho biết tổ tiên của họ từ vùng Ðông-Nam-Á qua; cũng như truyền thuyết của thổ dân người Úc cho biết tổ tiên của họ từ Ðông-Nam-Á đi xuống.

Sau phần chuyển nhập, tôi vào phần phân tích truyền thuyết họ Hồng Bàng. Phần nầy gồm có định nghĩa Hồng Bàng, minh chứng khởi điểm của họ Hồng Bàng bằng cách so sánh sự phát triển dân tộc Việt đi song song với sự phát triển các dân tộc trên thế giới qua Nhân chủng và Khảo cổ học. Sau họ Hồng Bàng, tôi còn dẫn chứng cho thấy Phục Hi và Thần Nông là những lãnh tụ phát xuất từ miền Nam Trung Hoa đã bị các học giả Trung Hoa coi là “ngoại lai”, tức là không thuộc Trung Hoa vì lý do là không thuộc vùng Trung Nguyên. Cuối cùng tôi còn định nghĩa về nước Văn Lang cũng như dẫn chứng về sự hiện diện của Hùng Vương qua chứng tích “cái qua” được các nhà khảo cổ tìm được ở Hồ Nam có khắc tên vị vua Hùng thứ 14 tên là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao.

Tóm lại tôi đã định nghĩa, phân tích và giải thích truyền thuyết họ Hồng Bàng qua văn tự chữ Nho, qua dân tộc học với các truyền thuyết khác nhau, qua khảo cổ và nhân chủng học với các xương sọ người và súc vật, cũng như di truyền học của ông J.Y Chu, qua cổ thư Kinh điển, cổ sử là bộ Sử Ký Tư Mã Thiên, tất cả đã được tổng hợp lại để đưa ra một cái nhìn tổng quát cũng như chi tiết về truyền thuyết họ Hồng Bàng, một truyền thuyết duy nhất nói lên nguồn gốc dân tộc Việt, và được xem là có thể tin được qua sự chứng minh của khoa học, cổ thư và cổ sử nói trên.

Bài viết nầy là một tiếp nối tìm hiểu cội nguồn dân tộc để coi ai là những vị tổ sáng lập ra dân tộc, phát triển cũng như bảo vệ và bành trướng dân tộc Việt, mà chúng ta cần phải nhớ tới ngày Giỗ Tổ để ghi ơn các Ngài.

"VIỆT NAM" NGHĨA LÀ GÌ?

 



1/ Không ít người bây giờ vẫn tưởng "Việt Nam" nghĩa là "nước Nam của người Việt". Hoặc là, qua một số em sinh viên trẻ cho tôi biết ở trường giải thích: "Việt Nam" nghĩa là nước Việt nằm về phương Nam (so với Tàu). Mắc giống gì mà danh xưng một quốc gia lại đi lấy một quốc gia khác làm "hệ qui chiếu"? Coi đi, quốc gia của người Hàn nằm về phía đông nước Tàu, họ đâu giải thích nước họ là ... "Hàn Đông".

Ý nghĩa của hai chữ "Việt Nam" bấy lâu nay thường được diễn giải theo chủ quan của hậu thế, NHƯNG cho dù diễn giải vi diệu/hay ho/cao siêu tới đâu đi nữa thì - xin nhấn mạnh - hãy nhớ rằng tên nước VIỆT NAM là do Nhà Nguyễn chính thức định danh. Thành thử phải tìm hiểu Nhà Nguyễn gọi vậy với ý nghĩa gì (chớ đừng nhồi nhét cách diễn giải của đời sau vào miệng tiền nhân)!

... Hệt như có một làn gió mát mẻ, hết sức khỏe khoắn sau khi tôi may mắn biết được ý nghĩa đích xác của tên nước "VIỆT NAM" khi vua Gia Long định danh.

"Việt" trong quốc danh "Việt Nam" , té ra không phải làm một với "Việt" trong quốc danh "Đại Việt" (mặc dù nhìn vô mặt chữ hệt nhau)!

Nói vào ngay, "Việt" đàng nào cũng có cái hay, nhưng lại không giống nhau.

2/ VIỆT NAM trở thành quốc danh chính thức, lần đầu tiên là vào đời vua Gia Long, năm 1804.

2a) Ban đầu, năm 1802 (Nhâm tuất) vua Gia Long đặt tên nước là "Nam Việt" .

Nhưng nhà Thanh e ngại hai chữ (Nam Việt) lặp lại quốc danh "Nam Việt" mà Triệu Võ Đế (Triệu Đà, năm 204 TCN - năm 137 TCN) đặt ra, bấy giờ lãnh thổ không chỉ có Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đồng bằng sông Hồng cho tới Hà Tĩnh) mà bao trùm luôn Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây).

2b) Để tránh sự e ngại từ nhà Thanh, đầu tháng hai năm Giáp tý (1804) vua Gia Long đã đổi "Nam Việt" thành VIỆT NAM ( ).

Dầu "Nam Việt" hoặc "Việt Nam" cũng đều chung ý nghĩa. Trịnh Hoài Đức (1765-1825), sử gia nổi tiếng sống dưới thời vua Gia Long, có mặt trong đoàn sứ qua Tàu đàm phán với nhà Thanh, cho biết:

"Việt Nam là quốc danh thích hợp để chỉ một lãnh thổ hợp nhứt giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài”, "chúng ta (Nhà Nguyễn) sở hữu đất của Việt Thường trước, và vùng An Nam được thêm vào sau đó".

Hai chữ VIỆT NAM là sự kết hợp giữa VIỆT (THƯỜNG) với (AN) NAM.

3/ Việt Thường là xứ mô?

Theo những sách cổ xưa như "Hậu Hán thư", "Thượng thư đại truyện", "Tư trị thông giám cương mục" thì nước Việt Thường nằm về phía nam Giao Chỉ.

Trong cuốn "Đại Nam Chính biên Liệt truyện sơ tập" thì xác định tên gọi VIỆT THƯỜNG "là tên cổ của xứ Champa"!

Một nguồn khác cho biết cách gọi "Việt Thường" là để chỉ lãnh thổ về phía nam của Giao Chỉ, bao gồm cả Phù Nam (sau này trở thành vùng Thủy Chân Lạp).

Khi Trịnh Hoài Đức viết "chúng ta sở hữu đất của Việt Thường trước", là nhằm ghi nhận các bậc tiền nhân của vua Gia Long (là các Chúa Nguyễn) đã hùng cứ tại Đàng Trong (Champa, Thủy Chân Lạp). Sau đó Nguyễn Phúc (phước) Ánh (vua Gia Long) đã "thêm vào vùng An Nam " là xứ lấy Thăng Long làm kinh đô (tức Đàng Ngoài).

4/ HÃNH DIỆN HAI CHỮ "VIỆT NAM"!

Trước đó, theo dòng lịch sử qua các đời Lý, Trần, Lê... cho dù tự xưng quốc danh "Đại Việt, Đại Nam"... hay đại gì đi nữa. Tuy nhiên, nước Tàu không tôn trọng mà họ cứ gọi xứ sở (lấy Thăng Long làm kinh đô) là "An Nam" miết (và gọi các đời vua Lý, Trần, Hậu Lê đều là "An Nam quốc vương")!

Đến đời Hoàng đế Gia Long, ban đầu triều đình bên Tàu ép vẫn phải dùng quốc danh "An Nam", không chịu "Việt Nam". Nhưng sứ giả của vua Gia Long không đồng ý.

Với quốc danh VIỆT NAM, quí bạn chú ý: Đây là LẦN ĐẦU TIÊN trong suốt lịch sử cả ngàn năm, Tàu đã phải từ bỏ cách gọi truyền kiếp "An Nam" đối với nước Việt chúng ta!

Đời nay chúng ta mỗi khi hãnh diện về hai chữ "Việt Nam" thì nên nhớ tới cái danh xưng đó do Hoàng đế Gia Long đặt ra, thống nhất sơn hà, và sau đó năm 1808 vua phân chia địa giới khu vực. Đừng uống nước mà quên luôn cái nguồn quốc hiệu đó từ đâu, đừng bị nhiễm thói ăn cháo đá bát.

5/ THAY LỜI KẾT

"Việt" (trong "Đại Việt" ) dùng để chỉ Việt tộc.

Còn "Việt" (trong "Việt Nam" ) tuy cùng mặt chữ nhưng được lấy từ trong danh từ kép "Việt Thường" (định danh về địa lý).

Ghép chữ "Việt" (trong "Việt Thường") với "Nam" (trong "An Nam") thành quốc danh VIỆT NAM, là sự ghi nhận đàng hoàng về nguồn gốc của từng vùng lãnh thổ!

Qua đó, vua Gia Long cho thấy niềm hãnh diện trước việc hợp nhứt Đàng Trong với Đàng Ngoài. Lãnh thổ nước ta LẦN ĐẦU TIÊN trải rộng từ bắc đến nam, từ ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nếu theo đường cái quan đi từ Quảng Ninh tới mũi Cà Mau thì thành đường cong chữ S.

Tắt một lời, VIỆT NAM là quốc danh mang ý nghĩa về SỰ HỢP NHỨT LÃNH THỔ.

Ý nghĩa nêu trên của hai chữ VIỆT NAM, thiệt hay hết sức, độc đáo hết sức trong tinh thần đoàn kết các cộng đồng dân tộc ./.

PHAN LÊ (st)

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2023

Xin nói thẳng mấy điều

 Mạc Văn Trang



Xin nói thẳng mấy điều

13:46 | Posted by BVN1 - 26-3-2023

 

Mạc Văn Trang

Tôi thấy giữa Chính quyền với Dân, giữa Dân với nhau có những lầm lẫn nguy hiểm, nên xin nói rõ mấy điều.

1. VỀ CHÍNH QUYỀN

1.1. Chính quyền vẫn nói: Chưa bao giờ đất nước vững mạnh, có được vị thế như ngày nay. Nhưng cứ mở mồm ra là chống “thế lực thù địch”, nhìn đâu cũng thấy “thế lực thù địch”, “phản động”, “chống phá”; “lực lượng 10 ngàn chiến sĩ 47 vừa hồng vừa chuyên tác nghiệp trên không gian mạng 24/24 đấu tranh với các thế lực thù địch”… Dư luận viên từ cấp huyện trở lên, “đông như quân Nguyên”. Chính những người này đem cái tư duy đấu tố từ hồi Cải cách ruộng đất vào xã hội văn minh ngày nay, phá hoại tinh thần khoan dung, hoà hợp dân tộc, phá hoại tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, gây nên không khí nghi kỵ, quy kết, chia rẽ, căng thẳng, hận thù trong xã hội ta.

Vợ chồng tôi đã nhiều lần nói rằng, chỉ có bọn xâm lược, đe dọa, lăm le xâm lược nước ta là thế lực thù địch. Còn tất cả người Việt Nam, dù ở trong hay ngoài nước, có quan điểm khác nhau, dù là đối lập, ở các đảng phái, hội đoàn khác nhau, yêu quê hương đất nước, đều là ĐỒNG BÀO MÌNH, không phải thế lực thù địch. Chỉ ai có hành động bán nước, phá hoại đất nước, lúc đó pháp luật sẽ xử lý, lịch sử sẽ kết tội.

1.2. Chả có thế lực nào chống phá được Đảng, Nhà nước này khi có lực lượng Công an hùng hậu “Chỉ biết còn Đảng còn mình”, “Quân đội trung với Đảng” trước tiên, hơn 5 triệu đảng viên và toàn hệ thống chính trị – cánh tay nối dài của Đảng, lúc nào cũng sẵn sàng: Có lệnh là “đồng loạt ra quân”… Chỉ có mấy người khùng mới đi “chống phá”. Chỉ có quy luật khách quan của lịch sử mới thắng những gì trái quy luật mà thôi. Vì vậy, chính quyền nên điều chỉnh sao cho hợp quy luật, chứ đừng làm những chuyện vô lý nữa. Ví như:

– Tổ chức đám dư luận viên, chuyên chửi bới những người khác ý kiến với chính quyền, nó làm xấu mặt chế độ và gây ô nhiễm không khí văn hoá - đạo đức xã hội.