Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

TẢN MẠN NGÀY KHAI TRƯỜNG




Nhớ giáo dục nên lướt qua xem không khí Khai giảng Năm học mới ra sao. Rồi không đừng được, xin có vài lời chia sẻ.

Ưu điểm của Năm học này là hầu như các trường tổ chức “Lễ khai giảng” ngắn gọn, nhẹ nhàng hơn; bớt các vị lãnh đạo Trung ương và địa phương đến đánh trống và phát biểu răn dạy Thầy, Trò nhà trường phải thế này, thế kia... Năm trước tôi đã có bài viết, xin các vị đừng đến rao giảng đạo đức ở nhà trường nữa, vì, một là, giáo viên, học sinh bây giờ qua thông tin trên mạng và dư luận xã hội, họ biết nhiều vị chả sạch sẽ gì đâu, phát biểu thêm phản tác dụng; hai là, các vị nói hầu hết là sai về quan điểm giáo dục ... Tốt nhất các vị chỉ nên chúc mừng và hỏi giáo viên, học sinh, xem chính quyền cần làm gì để nhà trường tốt hơn?

Đây năm nay các vị phát biểu sai bét:

- Thư của của TBT, CT nước gửi tất tật mọi người trong Ngành Giáo dục sao lại bắt các cháu HS bé tẹo phải nghe. Mà đoạn viết cho các cháu HS thì như cho học viên trường Đảng... “noi theo các thế hệ cha anh đi trước, phấn đấu học tập tốt, rèn luyện tốt để sau này trở thành những người vừa “hồng” vừa “chuyên” như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh"... Các cháu HS bé tẹo, biết “hồng” với “chuyên” là cái quỷ quái gì? Các cháu phải hướng về tương lại, chứ bắt các cháu “noi theo các thế hệ cha anh đi trước” thì đời các cháu vứt đi, xã hội tụt lùi? Hầu hết quan chức đều cho con đi Tây học đó thôi?

- “Thủ tướng căn dặn các thầy cô giáo, nhà trường, BÊN CẠNH học văn hoá, các thầy cô cần quan tâm hơn nữa đến giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng cho học sinh”... “Dạy chữ rất quan trọng nhưng việc DẠY LÀM NGƯỜI còn quan trọng hơn”... Thủ tướng ơi, “Văn dĩ tải đạo”. Các môn học ở nhà trường là có đủ mọi thức để để HS lĩnh hội thành con người đủ Chân, Thiện, Mỹ, Ích; dạy môn gì cũng phải đủ cả tri thức, kỹ năng thái độ, được trải nghiệm, tích hợp thành các Phẩm chất và Năng lực của người công dân hiện đại, không chỉ của Việt Nam mà còn hội nhập thành Công dân toàn cầu...

- Có lẽ Thủ tướng bị cái anh Bộ trưởng GD-ĐT ngu ngơ này xui dại, vì anh ta tuyên bố “Năm học mới ưu tiên 'dạy người' (?) Một câu nói chứng tỏ anh ta chẳng hiểu gì về giáo dục! Thật xấu hổ và tội nghiệp cho nền giáo dục nước nhà.

- Rồi lại đến ông chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế nhắn nhủ: 'Hãy học để làm người tốt chứ đừng nghĩ chỉ học để lấy tri thức”..."Các em hãy là những tấm gương tốt để mọi người có thể soi vào cùng làm theo”... Ông còn “luôn nhắc đến việc xây dựng "Giấc mơ Huế"... Rất trân quý tấm lòng của vị Chủ tịch tỉnh đối với giáo dục, nhưng cần khuyên các cháu có Giấc mơ rộng lớn hơn. Hãy nhớ gần 100 năm trước, ở Huế, ông Phạm Quỳnh từng khuyên HS, đại ý: Bên Tây người ta học vì Nhân loại; Dân ta hãy trước hết học vì Đất nước, vì Dân tộc đã...(Chứ sao các cháu chỉ có “Giấc mơ Huế”)?

- Còn mấy anh nhà báo xuống trường phản ánh về giáo dục mà viết thế này: ... “học sinh giờ diễn văn nghệ đủ thể loại, cực sung”... và “Hình ảnh ‘đốn tim’ của các nữ sinh ngày khai giảng”... Cậu Nhà báo này coi chừng nhé, mải nhòm ngó mấy em nữ sinh mơn mởn, khéo chưa kịp “đốn tim”, đã bị bọn Nam sinh “đốn” cho một trận như đòn đấy!

Đấy, mới lướt qua Lễ khai giảng Năm học mới mà đã thấy bao nhiêu “sạn” trong Giáo dục rồi. Khó quá đi thôi!

05/9/2019


NGÀY KHAI GIẢNG: ĐÔI ĐIỀU VỀ NHỮNG LÁ THƯ


Bài của Hà Thanh Tùng
Mỗi năm, ngày khai giảng như đã thành thông lệ với nhiều lứa tuổi. Ngày mà cả hệ thống giáo dục cả nước đều được nghe bức thư chúc mừng của Chủ tịch nước, chủ tịch UBND cấp tỉnh. Nhưng nghe mãi nghe hoài đó là giọng văn chung chung không điểm nhấn, không lối thoát. Lúc nào cũng luôn nhấn mạnh mọi lứa tuổi học sinh phải: “Học tập, làm theo…” những từ ngữ sáo rỗng.
Trong bức thư Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gửi thư dịp khai giảng năm học 2019-2020 có đoạn: “Tôi mong các em học sinh, sinh viên tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, “tôn sư trọng đạo” của dân tộc, noi theo các thế hệ cha anh đi trước, phấn đấu học tập tốt, rèn luyện tốt để sau này trở thành những người vừa “hồng” vừa “chuyên” như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh".
Chính những quan niệm này tạo thành một lối tư duy mòn, không có khả năng tư duy độc lấp, khám phá ra những mới lạ, không khẳng định được cái “tôi” tự do trong mỗi con người. Cứ “học tập và làm theo…” một thế hệ học sinh - sinh viên sẽ thành con cừu non dễ chăn dắt.
Mục đích của nền giáo dục không phải là lối mòn theo những lề thói cũ mà là khai phóng và nhân bản. Mục đích của giáo dục không phải là sản sinh ra những nhà khoa học những người vừa “Hồng vừa Chuyên”. Mà nó cố tìm cách để phát triển những giá trị nhân bản của con người biết cách sử dụng trí tuệ của mình và có thể độc lập suy nghĩ. Mục đích hàng đầu của giáo dục không phải là phát triển khả năng chuyên môn, dù một nền giáo dục khai phóng là không thể thiếu được đối với bất kỳ một nghề chuyên môn về đầu óc nào.
Nền giáo dục khai phóng và nhân bản sản sinh ra những công dân có thể sử dụng quyền tự do chính trị của họ một cách có trách nhiệm. Nó phát triển những con người trí thức có thể sử dụng thời gian của họ một cách hữu ích. Nó là một nền giáo dục cho tất cả những người tự do, dù họ có ý định trở thành nhà khoa học hay không.
Học tập phải luôn sáng tạo và không lệ thuộc về ý thức hệ, đó phải là một nền giáo dục khai phóng và nhân bản. Các môn học khai phóng, theo truyền thống, đều nhằm phát triển những năng lực trí tuệ của con người, những năng lực trí tuệ và trí tưởng tượng mà không có chúng thì ta không thể hoàn tất được một công việc trí tuệ nào. Giáo dục khai phóng không bị trói buộc vào những môn học nào đó, kiểu như triết học, lịch sử, văn chương, âm nhạc, nghệ thuật, và những môn được gọi là “khoa học nhân văn” khác.
Khi đã bàn về giáo dục thì phải đề cao khả năng khai phóng và nhân bản đó mới là mục đích chính của giáo dục. Những đứa trẻ của một nền giao dục như vậy trong quá trình trưởng thành được cung cấp cả một gói tri thức có cấu trúc tương đối hài hòa gồm những kiến thức phổ thông kết hợp với những hiểu biết phong phú về thiên nhiên, con người và các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là kỹ năng hợp tác. Điều đó giúp chúng có nhiều cơ hội trở thành một con người nhân văn, tự tin với sức khỏe tâm lý lành mạnh để hòa nhập vào cuộc sống tự lập và phát triển cá nhân. Đó cũng có thể được coi là một nền giáo dục tôn trọng tuổi thơ của trẻ em.

Trung Quốc đang thực hiện chiến thuật nuốt từng hải lý biển Việt Nam


Thường Sơn
Trong lúc 6 tàu ngầm lớp Kilo của Hải quân Việt Nam được cho là còn phải đi chống ngập ở Hà Nội và Sài Gòn, còn các tàu chiến khác, kể cả ‘tàu buồm hiện đại nhất thế giới’ mang tên Lê Quý Đôn mất dạng, toàn bộ lực lượng hải quân Việt Nam vẫn phủ phục trong tư thế bất  lực và kiên định… bám bờ, các tàu Trung Quốc đã thả giàn tung hoành ở Biển Đông và ngay trong ‘vùng chủ quyền không thể tranh cãi’ của Việt Nam.
Chỉ trong vòng khoảng một tuần, nhóm tàu khảo sát Hải Dương-8 của Trung Quốc đã tiến sâu thêm 30 km vào vùng biển Việt Nam và chỉ còn cách bờ biển tỉnh Ninh Thuận, miền Trung Việt Nam khoảng 155 km, theo dữ liệu theo dõi tàu biển của trang Marine Traffic vào sáng sớm ngày 1/9.

Họa đồ di chuyển của Hải Dương 8.
Trước đó vào ngày 24/8, Hải Dương 8 cùng các tàu hải cảnh của Trung Quốc chỉ cách bờ biển Phan Thiết của Việt Nam khoảng 185 km.
Vụ tàu Trung Quốc lấn dần từng chục hải lý như thế đã gián tiếp tiết lộ một sự thật bi thảm: trong suốt thời gian từ đầu tháng 6 năm 2019 khi tàu Trung Quốc bắt đầu xâm nhập bãi Tư Chính, Bộ Quốc phòng và Cảnh sát biển Việt Nam đã đối phó tệ hại đến mức Trung Quốc hoàn toàn coi thường những hành động đối phó này.

ĐÀ NẴNG : 20.000 TỶ ĐỒNG TIỀN THUẾ CỦA DÂN VÀO TAY AI ?


20.000 tỷ đồng ( gần 1 tỷ tiền Mỹ ) được 20 đồng chí ở Đà nẵng có tên trong danh sách dưới đây đã cùng Vũ Nhôm chiếm đoạt và chia nhau:
1. Trần Văn Minh, SN 1955, trú tại quận Hải Châu, cựu Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng (2006-2011)
2. Văn Hữu Chiến, SN 1954, trú tại quận Hải Châu, cựu Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng (2011-2014)
3. Nguyễn Điểu, SN 1958, cựu Giám đốc Sở TN&MT;
4. Nguyễn Ngọc Tuấn, sinh 1958, cựu Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng(từ 1/2012-2/2019).
5. Nguyễn Văn Cán, sinh năm 1954, cựu Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân TP Đà Nẵng.
6. Đào Tấn Bằng, sinh năm 1975, nguyên Chánh Văn phòng Thành uỷ ĐN
7. Nguyễn Viết Vĩnh, sinh năm 1978, nguyên Trưởng phòng Quản lý đô thị, Ủy ban nhân dân TP Đà Nẵng, Giám đốc Cảng vụ đường thủy nội địa TP.
8. Phan Xuân Ít, SN 1954, cựu Phó Chánh Văn phòng UBND TP Đà Nẵng.
9. Nguyễn Thị Thu Hà, SN 1957, cựu Phó giám đốc Sở Tài chính TP Đà Nẵng, Chủ tịch Hội đồng định giá tài sản công.
10. Nguyễn Thanh Sang, SN 1957, cựu Phó giám đốc Sở Tài chính TP Đà Nẵng.
11. Trương Duy Nhất, sinh năm 1964 cựu Trưởng VPĐD báo Đại đoàn kết tại Miền trung- Tây nguyên.
12. Lê Cảnh Dương, SN 1975, Giám đốc Ban xúc tiến và hỗ trợ đầu tư TP.
13. Nguyễn Công Lang, sinh năm 1954, trú tại quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, cựu GĐ Công ty Quản lý nhà Đà nẵng .
14. Phan Ngọc Thạch, sinh năm 1961, cựu TGĐ công ty CP Du lịch Đà Nẵng.
15. Trần Phi, sinh năm 1955, trú tại quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, cựu TGĐ công ty CP Xuất nhập khẩu Đà Nẵng.
16. Huỳnh Tấn Lộc, sinh năm 1952, trú tại quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, cựu TGĐ công ty Công nghệ phẩm Đà Nẵng.
17. Phan Minh Cương, SN 1971, nguyên Giám đốc Công ty TNHH I.V.C, Tổng giám đốc Công ty CP Xây dựng 79.
18. Lê Anh Tuấn, SN 1959, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Cung ứng tàu biển Đà Nẵng
19. Nguyễn Đình Thống, SN 1954, cựu Giám đốc Công ty Quản lý và Khai thác đất Đà Nẵng.
20. Trần Văn Toán, SN 1957, cựu Phó giám đốc Sở TN&MT.
Kết luận điều tra cũng cho thấy, Trần Văn Minh, Văn Hữu Chiến và đồng bọn, đã giúp Vũ Nhôm chiếm đoạt của Nhà nước số tiền hơn 20.000 ngàn tỷ đồng, tức gần một tỷ đô la.


Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2019

ĐỒNG CHÍ


Thơ: Văn Cao

Người ta các đồng chí của tôi
Treo tôi lên một cái cây
Đợi một loạt đạn nổ
Tôi sẽ dẫy như một con nai con
Ở đầu sợi dây
Giống như một nữ đồng chí
Một anh hùng của Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải kêu lên
Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Vẫn còn là một đảng viên
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam
Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ
đã nuôi cách mạng
Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi
dẫy chết
Có mẹ tôi
Ba lần mang cơm đến nhà tù
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi
Tôi sợ các cụ già không sống được
Bao năm nữa
Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa
Của chúng ta.
Chết đi mang theo hình đứa con
Bị bắn
Tôi sợ các em còn nhỏ quá
Sẽ nhớ đến bao giờ
Đến bao giờ các em hết nhớ
Hình ảnh tôi bị treo trên cây
Bị bắn
Hãy quay mặt đi
Cho các đồng chí bắn tôi...
Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Đảng Lao động...
(1956)
Bài thơ do nhạc sĩ, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cung cấp.


Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2019

Tư liệu Đặc biệt: ÔNG VŨ KỲ KỂ CHUYỆN CỤ HỒ KÉN VỢ


Lời dẫn của Nguyễn Thanh Bình: Cám ơn nhà báo Quoc Phong nguyên PTBT báo Thanh Niên về stt này. Ghi chép lại về đời tư của Bác của thư ký Bác lúc trọng bệnh. Bác là con người thật việc thật, thật giản dị, trong khi một số thông tin thần thánh hóa lên. Có lẽ nhiều người hết cuộc đời họ vẫn không biết được những câu chuyện như thế này!


Lời dẫn của Nhà báo Quốc Phong
Chuyện bây giờ mới kể

Tôi nghĩ, rồi những chuyện sau, cũng sẽ có lúc chúng ta nên công khai về đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà không nên thần thánh hoá. Người là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc VN . Cũng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và đấu tranh cho tự do, độc lập mà Người đã phải hy sinh , thiệt thòi . 
Nên hiểu điều đó sao cho đúng mà từ đó càng thấy thương Người, cảm phục Người hơn bội phần.




NHỮNG CHUYỆN ÔNG VŨ KỲ HỒI TƯỞNG 
ĐÃ ĐƯỢC GHI LẠI LÚC TRỌNG BỆNH
Dưới đây là 1 trong 2 câu chuyện được ông Vũ Kỳ , Thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại lúc 15h chiều 24/6/ 2004 tại Bệnh viện Hữu nghị, Hà Nội. Khi đó, ông Vũ Kỳ đã rất yếu rồi . Người được ông mời đến để ghi âm lại những chuyện mà ông kể ra sau đây là bà Nguyễn Thị Tình, khi đó là Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh cùng một cán bộ chuyên môn của Viện.
Sau đây là phần bóc băng của Bảo tàng HCM và họ đã chép lại . Để giữ tính trung thực, nó vẫn chưa hề được biên tập gì ( nguyên từ bản bóc băng chép tay của bà Tình. Bản trong băng, tôi- người gõ lại sau đây - cũng chưa được nghe băng trực tiếp. Thực ra, đến nay cuốn băng đã bị hư . Tuy nhiên, ngay sau khi ghi âm, lãnh đạo Bảo tàng Hồ Chí Minh đã chuyển ngay cuốn băng lên Lãnh đạo Bộ Văn hoá Thông tin (ông Phạm Quang Nghị) và Ban Bảo vệ Chính trị nội bộ Trung ương( ông Nguyễn Đình Hương) để xin ý kiến. Sau đó, Bộ Văn hoá TT đã có quyết định cử cán bộ của Viện bảo tàng HCM sang các nước châu Âu nghiên cứu sưu tầm tư liệu thêm.
Do đây là văn nói, lại không được nghe băng trực tiếp nên có những câu không rõ nghĩa nên vẫn để dấu (?) bên cạnh . Tôi đã hỏi chị Tình nhưng chị nói cũng không rõ vì khi đó, ông Vũ Kỳ cũng đã rất yếu .để khách quan, tôi không sửa gì hết. 
Nhân ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm nay, tôi mạn phép trích ra 1 trong 2 nội dung nói trên để mọi người ghé đọc và hiểu thêm về một nhân vật vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Có một nội dung, đó là chuyện Người đi lính 4 năm cho Pháp trong Chiến tranh Thế giới lần thứ 2( 1914-1918). Nội dung này tôi cũng đã viết trên Tạp chí Xưa & Nay đăng vào tháng 10 năm 2015 nên xin không nhắc lại ). Ông Vũ Kỳ kể :


Vấn đề thứ nhất : ( tôi không ghi lại )

Vấn đề thứ hai :

TRƯỜNG CỦA CHÚNG EM


( Kính tặng các thầy cô giáo và các bạn HS trường cấp 3 Tô Hiệu Sơn La )


Chúng em về đây dưới mái trường Tô Hiệu
Xa bao năm nỗi nhớ vẫn cồn cào
Dòng Nậm La  lững lờ một thuở
In đậm tình thầy trò đầm ấm năm nao

Chúng em xa trường nỗi nhớ cứ nôn nao
Nụ cười các thày cô với chúng em ngày nhỏ
Có định luật nào thày Vượng không giảng rõ
Làm hành trang chúng em bước vào đời

Thầy Lâm hiền từ mà nỗi nhớ khôn nguôi
Dạy chúng em ngẩng cao đầu nhìn bầu trời không giới hạn
Rồi một ngày muôn vàn gian khó
Muốn nên người không được sợ gian nan

Thầy Bình, Thầy Ngọc Anh dạy chúng em biết yêu nước nồng nàn
Biết căm thù lũ quân xâm lược
Biết luyện rèn đi lên khó khăn nào vẫn vượt
Bởi những áng thơ văn bất hủ bi hùng

Cô Công đưa chúng em ngược dòng thời gian
Với những trang sử hào hùng
Dân tộc mình có khi đỉnh vinh quang
Cũng có lúc chìm trong máu lửa
Nhưng trang nào cũng vẽ một thanh gươm tự vệ kiên cường

Thầy Oanh chỉ cho chúng em đâu biên giới biên cương
Cha ông ta đổ máu xương gìn giữ
Để hình hài Tổ quốc mãi vẹn nguyên
Một dấu son trên bản đồ Quốc tế
Để giòng giống Rồng Tiên mãi độc lập tự chủ một vùng.

Thầy Ngà dạy hóa hay đến lạ lùng
Chúng em mãi không quên bài ca hóa trị…

Thầy Hướng dạy sinh đến thật kiên trì
Cho chúng em hiểu quanh mình sự sống
Yêu màu xanh bạt ngàn quê hương truyền thống
Thương bát canh rau rừng mẹ nấu con ăn

Trường của chúng em, tự hào mãi ngàn năm
Được mang tên người anh hùng xứ nhãn
Người cộng sản trong ngục tù chói sáng
Ươm mầm xanh Cách mạng quê mình
Người chiến sỹ anh hùng, anh dũng kiên trung
Chúng em nguyện không ngừng tranh đấu
Tiếp bước cha anh đời đời phấn đấu
Xứng danh mái trường ... yêu dấu mãi ngàn năm./.

16/3/2019
T/g thạc sỹ NTL Phông thư ký riêng bà Tòng Thị Phóng

Di chúc Hồ Chí Minh: những nghi vấn đặt ra từ văn bản


Nguyễn Thị Từ Huy 
23-04-2015
Trước hết, xin quý độc giả lưu ý rằng tôi không đánh giá về Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử. Đánh giá về các nhân vật lịch, về đóng góp và sai lầm của họ, là công việc của các sử gia chân chính.


Ở đây, tôi chỉ làm một việc duy nhất : khảo sát các văn bản di chúc của Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó chỉ ra một số điều mà văn bản cho phép nhìn thấy. Đúng hơn là các văn bản của Hồ Chí Minh cho phép đặt ra một số nghi vấn mà tôi không có câu trả lời. Tôi cũng không có tham vọng trả lời, tôi chỉ làm công việc đặt ra các câu hỏi.
Trong bài này, để tiến hành khảo sát các bản di chúc, tôi sử dụng các bản gốc đánh máy năm 1965 và bản gốc viết tay các năm 1968-1969, của Hồ Chí Minh, được công bố trong cuốn «Toàn văn di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh», NXB Trẻ, 1999.
Bản di chúc đầu tiên được đánh máy và ký ngày 15/5/1965, với sự chứng kiến của Lê Duẩn, lúc bấy giờ là Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương, có chữ ký của Lê Duẩn trong văn bản đánh máy.
Bản di chúc thứ hai, được viết tay, bằng mực xanh, vào dịp sinh nhật thứ 78, tức là vào tháng 5 năm 1968, với rất nhiều sửa chữa, gạch xóa bằng mực đỏ, không có chữ ký, không có người chứng kiến.
Bản thứ ba, đề ngày 10/5/1969, chỉ có một trang viết tay, với nội dung là phần mở đầu của di chúc.
Như vậy, có thể thấy, Hồ Chí Minh viết hoặc sửa di chúc vào mỗi dịp sinh nhật. Điều này cũng có thể hiểu được : chính là vào dịp sinh nhật mà người ta nghĩ đến quỹ thời gian còn lại của mình, nhất là đối với những người cao tuổi. Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho cái chết của mình một cách đầy ý thức, từ nhiều năm trước khi chết.
Bản gốc di chúc thứ nhất và thứ hai đều có ghi quốc hiệu : « Việt Nam dân chủ cộng hòa/ Độc lập, Tự do, Hạnh phúc ». Và đều có ghi chú ở ngay dòng đầu tiên : « Tuyệt đối bí mật ». Đồng thời việc viết và sửa chữa di chúc nhiều lần, việc sửa chữa, thêm bớt từng chữ một, cho thấy rằng, đối với Hồ Chí Minh, di chúc là một văn bản hết sức quan trọng, hết sức có ý nghĩa đối với ông.
Tôi xin xác định rõ : ở đây tôi không đi vào phân tích toàn bộ các văn bản di chúc, không phân tích tư tưởng của Hồ Chí Minh, không đánh giá đúng sai. Có thể tôi sẽ làm việc đó vào một lúc khác nhưng không phải lúc này.
Nhận xét sơ bộ đầu tiên của tôi có thể tóm gọn trong mấy câu hỏi sau đây :
1. Vì sao từ bản di chúc thứ hai ông chọn hình thức viết tay, chứ không đánh máy nữa ? Liệu ta có thể nghĩ đến một trong những câu trả lời khả dĩ : « để không ai có thể sửa đổi hay đánh tráo được » ? Ta biết rằng đối với một văn bản đánh máy, trừ trang có chữ ký ra, bất kỳ trang nào cũng có thể bị thay thế mà… không để lại dấu vết gì. Dù sao đấy cũng chỉ là một phỏng đoán. Nhưng nếu quả thật Hồ Chí Minh đã có linh cảm và lo ngại rằng di chúc của ông sẽ bị sửa chữa sau khi ông chết thì linh cảm và lo ngại ấy quả là chính xác, vì đó chính là điều mà Bộ Chính trị đã làm.
2. Bản di chúc thứ hai, 1968, không có chữ ký, và không có người chứng kiến. Văn bản được công bố với rất nhiều sửa chữa cho phép phỏng đoán rằng đó có thể là một bản nháp. Câu hỏi là : từ sinh nhật 1968 đến sinh nhật 1969 ông Hồ Chí Minh hoàn toàn có thời gian để chép lại văn bản ngắn ấy thành một văn bản hoàn chỉnh, có chữ ký của ông đàng hoàng, như ông đã làm với văn bản thứ nhất, nhưng tại sao ông không làm điều đó ? Tại sao ông mất 5 năm để viết một di chúc, thay đổi, sửa chữa rất nhiều, chứng tỏ nó rất quan trọng đối với ông, mà rốt cuộc ông chỉ để lại một văn bản dang dở và gạch xóa sửa chữa nhằng nhịt như vậy ? Liệu có phải ông Hồ đã viết lại sạch sẽ và ký cẩn thận, nhưng văn bản chính thức có chữ ký đó không còn nữa ?
3. Văn bản năm 1969 chỉ có một trang viết tay, nội dung cho thấy đó là lời mở đầu di chúc, lặp lại một số nội dung đã từng viết ở phần mở đầu của những di chúc trước. Tuy nhiên trông nó như là bản nháp, vì đầu trang không đề quốc hiệu, cũng không có dòng chữ «Tuyệt đối bí mật », như hai bản trước. Chẳng lẽ Hồ Chí Minh chỉ viết phần mở đầu mà không viết phần nội dung chính ? Điều này thật đáng ngạc nhiên. Bởi Hồ Chí Minh hiểu rõ tầm quan trọng của di chúc, hiểu rõ rằng di chúc của ông chính là một văn bản lịch sử. Câu hỏi đặt ra là : Liệu có phải văn bản năm 1969 chỉ có chừng đó không ? Liệu có phải Hồ Chí Minh đã viết một bản di chúc thứ ba rất hoàn chỉnh, vào sinh nhật năm 79 tuổi, nhưng chỉ còn lại một trang nháp, và phần chính của nó đã bị thất lạc, hoặc bị hủy bỏ, hoặc không được công bố ?
Tại sao có những câu hỏi này ?

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2019

Hãy dẹp bớt kiêu ngạo cộng sản


Nguyễn Đình Cống
Gần đây tôi được một nhóm trí thức cử làm đại diện nhằm trao đổi với các cơ quan có thẩm quyền của Đảng CSVN để bàn việc tổ chức đối thoại. Nhóm này gồm trên mười trí thức hoạt động cho công cuộc dân chủ hóa đất nước, được các anh Chu Hảo, Phạm Xuân Đại và tôi vận động đồng tình.
Tôi đã viết văn bản ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI, gửi ông Võ Văn Thưởng, Trưởng ban Tuyên giáo ĐCSVN vào ngày 20 tháng 7- 2019. Văn bản được gửi bảo đảm qua Bưu điện và mang đến tận văn phòng. Cả 2 nơi đều có biên nhận. Sau vài ngày tôi gửi tiếp cho ông Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận. Cả 2 văn bản có yêu cầu được trả lời (trước ngày 20 tháng 8 với ông Thưởng, trước ngày 27/8 với ông Thắng).
Thế nhưng cho đến ngày 30 tháng 8, tôi không nhận được một thông tin gì từ phía các ông. Họ không trả lời, dù một câu qua điện thoại, rằng đã nhận được đề nghị. Tại sao vậy? Quá bận chăng. Có lẽ chỉ có thể giải thích bằng thái độ kiêu ngạo cộng sản. Kiêu ngạo này là của cá nhân hay là một chủ trương của Bộ Chính trị mà các ông phải chấp hành. Dù sao thì đây cũng là biểu hiện thiếu tôn trọng, thiếu lịch sự, thiếu văn hóa.
Ông Thưởng từng phát biểu: “Đối thoại, tranh luận tạo cơ sở để hình thành chân lý”. Từ chối đối thoại phải chăng Ban Tuyên giáo, Hội đồng Lý luận của ĐCSVN không muốn, không cần tìm chân lý.
Các vị lãnh đạo ĐCSVN có một nhầm lẫn tai hại, nghĩ rằng dựa vào đội ngũ trí thức của Đảng, dựa vào các ban ngành, các hội đồng, hội thảo mà họ có thể tìm thấy toàn bộ sự thật.

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2019

Các nhóm thân hữu và tắc nghẽn thể chế đang gây hại cho VN


PGS. TS. Phạm Quý Thọ
Tìm kiếm mô hình phát triển cho đất nước là tâm huyết của nhiều chính trị gia và các nhà nghiên cứu.
Đường lối Đổi mới tự nó không phải là mô hình. Đảng Cộng sản lãnh đạo quá trình chuyển đổi sang thị trường có lúc thăng trầm. Theo quan sát của tôi, bối cảnh cải cách hiện nay đang hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi cho mô hình phát triển. Xu hướng cải cách tạo ra thời cơ. Tuy nhiên, nó cần được nhận rõ để hiện thực hoá.
Quá trình đổi mới và ‘thập kỷ mất mát’
Hơn 30 năm trước, tính từ 1986, đường lối Đổi Mới với chính sách mở cửa và cải cách đã đưa Việt Nam thoát khủng hoảng kinh tế, vươn lên thoát nghèo và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp.
Thu nhập quốc dân GDP trên đầu người năm 2018 đạt 2.587 USD.
Bỏ qua 5 năm đầu thoát khủng hoảng (1986-1991) và giai đoạn bất ổn từ 2009, trong vòng 20 năm (1991 – 2011), tăng trưởng GDP bình quân năm đạt 7,34%, quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên 2,1 lần năm 2000.
Kinh tế thị trường không chỉ là cứu cánh và dần thế chỗ kinh tế tập trung, bao cấp. Dư địa tăng trưởng là giải phóng sức lao động và tiềm năng nguồn lực vật chất như đất đai, tài nguyên.
Nay dư địa ‘thô’ dần cạn kiệt và những cảnh báo được đưa ra rằng đất nước có thể rơi vào bẫy thu nhập trung bình.
Thời kỳ bất ổn vĩ mô không chỉ khiến tốc độ tăng trưởng giảm sút mạnh, mà còn gây khủng khoảng thể chế, đe doạ sự tồn vong của chế độ, mất niềm tin dân chúng và rối loạn xã hội.
Nguyên nhân được cho là sự sai lầm của chính sách kinh tế dựa vào các tập đoàn kinh tế nhà nước và sự tha hoá của bộ máy hành chính thiếu năng lực điều hành. Bản chất sâu xa là sự duy ý chí khi cho rằng Đảng Cộng sản có thể lãnh đạo kinh tế thị trường mà vẫn duy trì chế độ độc tôn.
Đảng đã không thay đổi kịp để thích ứng với chuyển đổi sang thị trường.
Kinh tế thị trường đòi hỏi không gian tự do cho con người và doanh nghiệp dựa trên sở hữu tư nhân và tự do cá nhân với các giá trị phổ quát, đối ngược với các chuẩn mực lý tưởng cộng sản.
Sự ‘tự diễn biến, tự chuyển hoá’ trong nội bộ tổ chức đảng là hậu quả của sự duy trì ý thức hệ xã hội chủ nghĩa giáo điều vốn là nền tảng của hệ thống chính trị hiện hành.