Thứ Tư, 28 tháng 2, 2024

“Trở về với Phật giáo nguyên thủy” trong đời sống hiện tại

2:14 | Posted by BVN1

Mạc Văn Trang



Đây là câu chuyện tôi muốn kể với các bạn về TỲ KHEO THÍCH BẢO NGUYÊN Ở MỘT “CHÙA NGHÈO” TU NGŨ MINH.

Hồi đầu tháng 10/2021 tôi bị F0 covid 19, nhưng không chịu đi tập trung, cố thủ trong phòng (Thực ra lúc đó lãnh đạo TP đã nới lỏng, nên mới chống được lệnh cưỡng chế).

Do mình bình tĩnh, vợ chăm sóc hết lòng và dùng thuốc của BS Đại, do Nghiên, con gái đỡ đầu gửi đến, nên vượt qua dễ dàng. Một người bạn gửi cho thuốc Nam để uống và thuốc nhỏ mũi, nói là thuốc của Thầy Thích Bảo Nguyên, chữa Covid tốt lắm. Nhưng đã đỡ nên tôi chỉ dùng thuốc nhỏ mũi…

Sau 15 ngày thì thấy dường như hết bệnh. Tôi đi bộ ra Trạm xá xã để Test kiểm tra, lấy Giấy chứng nhận đã khỏi bệnh Covid 19. Đi chậm chừng 30m thấy mệt, đi nhanh dăm bước là tức thở phải dừng lại…Rất vất vả mới đến chỗ xét nghiệm và lấy Giấy chứng nhận, chừng hơn 2km. Lúc về phải ngồi xe ôm.

Thì ra “Hậu covid” ảnh hưởng đến nhiều thứ, nhất là Phổi. Lúc này tôi mới dùng thuốc uống của Thầy Bảo Nguyên; đó là thứ rượu thuốc, pha “1 nắp chai” với nước ấm và uống sáng, chiều sau ăn.

Uống vào thấy ho nhiều và ra đờm liên tục, rất khó chịu. Tôi bảo, thuốc quái gì, uống vào bệnh lại nặng thêm? Sau nghĩ ra, có lẽ ho, ra đờm nhiều là chữa bệnh, làm sạch phổi, nên cứ uống tiếp. Phải sau chừng 2 tháng, uống thuốc, luyện đi bộ, đập lưng, khí công, mới phục hồi gần được như trước khi bị bệnh.

Cuối năm 2023, Kim Chi liên hệ được với cô Phước, người đã chuyển thuốc của Thầy Bảo Nguyên cho người bạn của chúng tôi, để đưa cho tôi. Ngày 2/1 vợ chồng tôi cùng vợ chồng cô Phước đi thăm Thầy Bảo Nguyên.

Bố cáo nhân 10 năm ra đời của Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng

09:14 | Posted by BVN4

Câu lạc bộ (CLB) Lê Hiếu Đằng được thành lập tính đến nay đã tròn 10 năm (10/2/2014 – 10/2/2024).

1. Bối cảnh ra đời

Lê Hiếu Đằng là Thủ lĩnh phong trào đấu tranh của sinh viên Sài Gòn và các đô thị miền Nam trước 1975. Ông từng bị nhà chức trách Việt Nam Cộng hòa kết án tử hình. Sau 1975 ông là luật sư, chức vụ trong chính quyền là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Lê Hiếu Đằng mất ngày 22/1/2014 (nhằm 22 tháng Chạp Quý Tỵ). Trong thời gian trọng bệnh, ông đã chia sẻ những nỗi niềm trăn trở, những lời tâm huyết với các bạn bè về thực trạng đất nước và những sai lầm của đảng cầm quyền đi ngược lại ý nguyện và những đóng góp của những người đã xây dựng lên chế độ, trong đó có ông.

Lê Hiếu Đằng là một trong 72 người đầu tiên đã kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 2013. Ông cũng là người đi đầu trong các cuộc biểu tình tại thành phố Hồ Chí Minh chống Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam. Ông lớn tiếng phê phán chính quyền đã vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền khi trấn áp những người Việt Nam yêu nước biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo. Lê Hiếu Đằng đã trở thành biểu tượng của tinh thần yêu nước chống xâm lăng đấu tranh ôn hòa chống độc tài, đòi dân chủ và đa nguyên cho Việt Nam.

Trung thành với những di sản, tâm nguyện của Lê Hiếu Đằng, sau khi ông mất, ngày 10/2/2014, các đồng đội cũ của ông đã họp mặt tại công viên Văn Thánh, TP. Hồ Chí Minh, chính thức thành lập CLB Lê Hiếu Đằng và bầu bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm làm Chủ nhiệm câu lạc bộ. Ba năm sau, Hội nghị ngày 19/2/2017 bầu ông Lê Thân, bạn chiến đấu của ông Lê Hiếu Đằng làm Chủ nhiệm.

2. Mục đích / Sứ mệnh của CLB

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2024

BẠN CẦN BIẾT : MỌI SỰ GHI CHÉP CẦN THEO ĐÚNG TRÌNH TỰ THỜI GIAN TRÁNH "RÂU ÔNG NỌ CẮM CẰM BÀ KIA"!

Matthew Chuong

 


I. DẪN NHẬP

1a) Đọc thấy trên một số báo ghi: "(...) Trương Định đóng quân tại Đám Lá Tối Trời ở làng Gia Thuận, thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang".

Sao, Trương Định lập căn cứ trong ... năm 1976 hả? Bởi vì, quí bạn chú ý, tên gọi "tỉnh Tiền Giang" CHỈ mới xuất hiện từ tháng 2/1976 mà thôi; trước đó ở vùng này theo dòng lịch sử KHÔNG hề có tên gọi "tỉnh Tiền Giang".

Viết đúng phải là "(...) ở làng Gia Thuận, thuộc Gò Công, tỉnh GIA ĐỊNH" (rồi mở ngoặc ghi chú: nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Vì, vào năm 1861 khi tướng quân Trương Định lập căn cứ, Gò Công bấy giờ thuộc tỉnh Gia Định đó đa! (sau này, Gò Công còn thay đổi nhiều bận về địa giới hành chánh)

1b) "Đám tang của chí sĩ Phan Châu Trinh, tháng 3 năm 1926, là môt sự kiện gây chấn động trong lòng nhân dân thành phố HCM". Ắt quí bạn thấy sai, ngay lập tức! Ghi đúng, phải là "...trong lòng người dân SÀI GÒN". Đâu phải vì hiện nay gọi "TP.HCM" (đổi tên từ tháng 7/1976), rồi đem cách goi này úp chụp trên dòng thời gian trước đó.

1c) Đọc thấy ghi quấy quá, như ri: "Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, mở ra thời kỳ tự chủ lâu dài cho đất nước. Năm 939, ông xưng vương, đặt kinh đô tại Cổ Loa (huyện Đông Anh, Hà Nội) => Cái rồi, đọc thấy có những ý kiến bàn luận cho rằng Hà Nội đã được chọn là kinh đô từ buổi đầu độc lập! Hả? Bình luận KHÔNG trúng lich sử gì hết!

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2024

Tiếng Việt: Niềm tự hào của chúng ta

 Nguyễn Hải Hoàn



Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói / Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ / Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa / Óng tre ngà và mềm mại như tơ…” (Thơ “Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ).

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi. Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi, tiếng ru muôn đời … Tiếng nước tôi, bốn nghìn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi… (Bài hát “Tình ca” của Phạm Duy).

Chẳng rõ ngoài tiếng Việt ra, trên thế gian này còn có thứ tiếng dân tộc nào được cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ ca ngợi bằng những lời lẽ nghĩa lý sâu xa, tình cảm thắm thiết đến thế? Ắt hẳn tiếng Việt phải có khả năng tạo nên một sức hút kỳ diệu khiến trái tim các nhà nghệ sĩ rung lên phát ra thành lời thơ mượt mà, điệu nhạc du dương như trên. Là những người có giác quan nhạy cảm trước mọi cái đẹp, cái vượt trội, các nghệ sĩ bẩm sinh có khả năng nhận ra những cái người thường khó nhận thấy. Mấy câu ca lời thơ trích dẫn ở trên chứng tỏ điều đó.

Lưu Quang Vũ mở đầu bài thơ ca ngợi tiếng Việt bằng một nhận xét tinh tế, chính xác, khiến các nhà ngôn ngữ học bậc thầy cũng phải ngạc nhiên: “Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói”. Nhà thơ muốn nhắc lại một sự thật lịch sử quan trọng mà các học giả ta ít để ý tới: Cách đây hơn 2000 năm, trước ngày chữ Hán chính thức vào Việt Nam theo chân đội quân của Triệu Đà, người Việt chưa hề biết chữ viết là gì, còn người Hán đã sử dụng chữ viết được hơn nghìn năm. Thế nhưng hồi ấy tổ tiên ta đã làm chủ một ngôn ngữ nói hoàn thiện, chín muồi tới mức “vẹn tròn”, có các ưu thế như ngữ âm cực kỳ phong phú, phát âm thống nhất trong cả nước, thích hợp dùng chữ viết biểu âm, được toàn dân yêu quý gìn giữ như một vật báu – đó là tiếng Việt.

Tiếng mẹ đẻ của dân tộc ta có đặc điểm nổi trội nhất  ngữ âm cực giàu, ví dụ số âm tiết (syllable) nhiều gấp hơn chục lần tiếng Hán. [1] Vì thế tiếng Việt khác hẳn và không chung nguồn gốc với tiếng nói của các chủng tộc láng giềng phương Bắc, là những ngôn ngữ nghèo ngữ âm. Tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic), tiếng Hán và tiếng các tộc Bách Việt thuộc ngữ hệ Hán-Tạng (Sino-Tibetan) hoặc Tai-Kadai. Đây là một trong những căn cứ để suy ra cộng đồng người nói tiếng Việt là cư dân bản địa chứ hoàn toàn không phải là cư dân di cư từ phương Bắc tới. [2]

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

KHÔNG THỂ NÀO QUÊN ( thơ )

 Nguyễn Thị  Lan Phương - 

Tặng các bạn lớp mình

 


Bao khao khát mong ngày ta trở lại

Cùng bạn bè vui dưới mái trường xưa

Ôi! Năm mươi năm thấm thoát thoi đưa

Sơn La quê mẹ nắng mưa nhọc nhằn

 

Ngày họp lớp các bạn ta nhủ nhắn

Nhớ về thơ ấu muối mặn cay gừng

Ta về cùng nhau tay bắt mặt mừng

Nhớ Nậm La thuở ngập ngừng xa xưa

 

Thứ Năm, 21 tháng 12, 2023

Ngày trở lại ( thơ )

 

NGÀY TRỞ LẠI

       Kính tặng các thế hệ thầy cô giáo và các bạn học sinh Trường THPT Tô Hiệu, TP Sơn La.

Nguyễn Thị Lan Phương, k70-73.

 




Về gặp nhau sau năm tháng chia xa

Suốt chặng đường đầy phong ba vất vả

Dù gian khó không bao giờ gục ngã

Lớp chúng mình hối hả khắp ngả đường

 

Những cô gái dáng duyên trước giảng đường

Bao chàng trai vùng biên cương chống giặc

Mặt trận nào lớp mình đều xuất sắc

Cứ trong veo giữa trầm mặc dị kỳ

 

Trường của chúng em ( ngâm thơ )

 






TRƯỜNG CỦA CHÚNG EM

Kính tặng các thầy cô giáo và các bạn hs Trường THPT Tô Hiệu TP Sơn La

 

Chúng em về đây dưới mái trường Tô Hiệu*

Xa bao năm nỗi nhớ vẫn cồn cào

Dòng Nậm La lững lờ một thuở

In đậm tình thầy trò đầm ấm năm nao...

 

Chúng em xa trường nỗi nhớ cứ nôn nao

Nụ cười các thầy cô với chúng em ngày nhỏ

Có định luật nào thầy Vượng không giảng rõ

Làm hành trang chúng em bước vào đời ...

 

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2023

TRUNG ĐÔNG: CUỘC CHIẾN 3.000 NĂM.

 


Khi người Do Thái (Jew) đến định cư ở Ai Cập cách nay gần 4.000 năm, họ được cư dân bản địa - những chủ nhân của nền văn minh cổ xưa nhất loài người - đón tiếp nồng hậu và cưu mang tận tình.

Năm 1710 trước CN, người Hitchcott chinh phục Ai Cập. Do văn hay, chữ tốt nên rất nhiều người Do Thái được kẻ xâm lược mời ra làm quan, và tất nhiên những người Ai Cập không bao giờ dung thứ cho cái lẽ “ăn cháo đá bát” đó! Đây tạm gọi là thù hận 1.

150 năm sau, người Ai Cập đánh đuổi được những kẻ xâm lược (1560 trước CN). Việc đầu tiên sau khi giành lại được độc lập là bắt cả dân tộc Do Thái làm nô lệ. Những đắng cay tủi nhục trong những năm tiếp đó không thể nào diễn đạt nổi. Đây là thù hận 2.

CHÚNG TA ĐANG Ở THỜI ĐẠI NÓI LÁO TOÀN TẬP!

 Toàn Láo Cả!

Đỗ Duy Ngọc



Không biết lịch sử ghi lại các triều đại phong kiến đúng sai như thế nào, cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng. Thế nhưng, thời đại ta đang sống hoá ra toàn láo cả. Rồi lịch sử thời hiện đại sẽ viết sao đây?

Thằng doanh nhân bán đồ giả làm giàu, cứ tưởng nó giỏi, hoá ra chẳng phải thế. Nó chỉ là kẻ “Treo dê bán chó”, mua 30.000 bán 600.000 không giàu sao được, thế rồi lúc giàu lên, hàng ngày lên mạng truyền thông dạy đạo đức, dạy bí quyết, dạy cách cư xử.

Kẻ thì đem hoá chất trộn vào thức uống, khiến người ta nghiện chất độc, tạo thành thói quen nguy hiểm cho người dùng. Thế rồi khi có nhiều tiền, anh ta in sách dạy người ta tư duy, dạy cho tuổi trẻ cách sống. Nuôi đội ngũ nhà văn nhà báo tung hô mình như thánh sống, tuyên bố như đấng khải đạo.

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023

THẰNG KHÙNG

 (Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)

(Bài viết của Phùng Quán)

 

(THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài. Phùng Quán viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân - không phải là nhà văn có cùng tên - khi cùng ở trong tù).

"… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.

Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.

Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.